vanban.org

Bản án 93/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lô Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/01/2022. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn T phạm tội mua bán trái phép chât ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2022/HSST
Ngày 29 tháng 6 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hoa

Bà Nguyễn Thị Lại

Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Tống Lan Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2022/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lô Văn T, Sinh năm: 1998. Giới tính: nam; Tên gọi khác: Không. ĐKHKTT: Thôn PM, xã GM, huyện VL, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Tổ dân phố MĐ2, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Lô Văn C, sinh năm: 1968; Con bà: Hoàng Thị Th, sinh năm: 1960; Bị cáo là con duy nhất. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/01/2022 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố MĐ2, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

2. Chị Lường Thị D, sinh năm: 1999 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Bản H, xã CK, huyện SM, tỉnh Sơn La

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố TQ, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ ngày 17/01/2022, tại khu vực cầu vượt thuộc thôn Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Việt Yên phối hợp với công an xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên phát hiện, bắt quả tang Lô Văn T, sinh năm 1998 ở Thôn PM, xã GM, huyện VL, tỉnh Lạng Sơn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái, phía trước đang mặc của Lô Văn T 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa một gói giấy màu trắng được quấn bằng chun đen, bên trong chứa hai gói giấy bạc, mỗi gói giấy bạc đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Vật chứng nghi là ma túy đã được niêm phong trong phong bì dán kín có ký hiệu là “QT”. Ngoài ra còn thu giữ của T các tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh nâu bạc, biển kiểm soát 12V1-161.68; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12V1-161.68 mang tên Lô Văn T; 01 căn cước công dân mang tê Lô Văn T; 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S Plus màu xanh đã cũ và số tiền 3.000.000 đồng.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lô Văn T tại phòng trọ số 305, khu nhà trọ của anh Nguyễn Ngọc T- sinh năm 1977 tại tổ dân phố MĐ 2, thị trấn N, huyện Việt Yên. Kết quả khám xét thu tại trên mặt giường trong phòng trọ một hộp nhựa có nắp đậy màu trắng bên trong chứa 10 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy heroin). Tất cả số vật chứng nghi là ma túy trên đã được niêm phong trong một phong bì có ký kiệu “KX”.

Ngày 17/01/2022, cơ quan cảnh sát điều tra đã kiểm tra điện thoại thu giữ của Lô Văn T. Kết quả kiểm tra danh mục điện thoại, số gọi đi, gọi đến không xác định được số điện thoại đã gọi cho T để mua ma túy. Tại các danh mục tin nhắn, zalo, Messenger đều không phát hiện các nội dung liên quan đến hành vi mua bán ma túy.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số vật chứng nghi là ma túy thu được của T. Tại kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 19/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đã kết luận:

“Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng, bên ngoài quấn dây chun màu đen. Tất cả được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,273gam, loại heroin.

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,815 gam, loại heroin”

Về nguồn gốc số ma túy trên, Lô Văn T khai: Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2022, T đi bộ từ phòng trọ ở tổ dân phố MĐ 2, thị trấn N, huyện Việt Yên, đến bãi đất trống gần cổng làng tổ dân phố MĐ 1, thị trấn N, huyện Việt Yên. Tại đây, T gặp một nam thanh niên tên H khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7m, dáng người bình thường (nhưng T không rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ của người này). T hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy heroin của H và được Hữu đồng ý bán. T đã đưa cho Hữu 2.000.000 đồng, H cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là chất ma túy heroin. T cầm số ma túy mua được mang về phòng trọ và chia số ma túy ra thành 14 gói giấy bạc có chứa chất cục bột màu trắng, sau đó cất giấu vào một hộp nhựa có nắp đậy màu trắng và để chiếc hộp ở trên mặt giường trong phòng trọ của T. Sau đó, T đã sử dụng hết một gói giấy bạc có chứa chất ma túy đã chia. Khoảng 18 giờ ngày 16/01/2022, T đã bán một gói giấy bạc có chứa chất ma túy heroin cho một nam thanh niên không quen biết tại bãi đất trống thuộc tổ dân phố MĐ 2, thị trấn N, huyện Việt Yên được số tiền 200.000đồng. Khoảng 09 giờ ngày 17/01/2022, T đang ở phòng trọ thì có một số điện thoại lạ gọi cho T vào số sim lắp trong chiếc điện thoại Nokia đen trắng của T và bảo mua 400.000 đồng ma túy heroin, hẹn giao ma túy ở khu công nghiệp Vân Trung, huyện Việt Yên. T đã lấy hai gói giấy bạc có chứa chất ma túy trong hộp nhựa ra rồi bọc một gói giấy màu trắng quấn dây chun màu đen và để trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền đỏ và cất vào túi áo khoác (áo mưa) phía trước bên trái đang mặc. T điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 12V1-161.68 đi bán chất ma túy. Khi đi đến khu vực chân cầu vượt thuộc thôn Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 09/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lô Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Lô Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng. Áp dụng khoản 1 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị: Xử phạt Lô Văn T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/01/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 điều 106 BLTTHS, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT” và “KX” Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh nâu bạc, biển kiểm soát 12V1-161.68; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12V1-161.68 mang tên Lô Văn T. Trả cho T: 01 căn cước công dân mang tên Lô Văn T; 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S Plus màu xanh đã cũ và số tiền 3.000.000 đồng.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện. Quá trình thực hiện hành vi chỉ có một mình bị cáo thực hiện, không bị ai sai khiến. Tuy nhiên, bị cáo khai không bán ma túy cho một người thanh niên vào ngày 16/01/2022 được 200.000 đồng mà đã sử dụng số ma túy này cho bản thân. Trong quá trình điều tra bị cáo khai bán ma túy cho một người thanh niên như vậy là do khi đó hoảng loạn, lo sợ, bị cáo đã khai không đúng. Chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc với người mua ma túy là điện thoại Nokia đen trắng nhưng đã bị đánh rơi khi bị cáo đi từ khu trọ ra cầu vượt để đi bán ma túy. Bị cáo đã tự nguyện khai báo, không bị ai ép cung, nhục hình. Bị cáo thấy ăn năn, hối cải về hành vi đã làm, không tranh luận, không bào chữa gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định nhƣ sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa về hành vi phạm tội bị bắt quả tang ngày 17/01/2022 hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do công an huyện Việt Yên lập hồi 10 giờ 45 ngày 17/01/2022, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 19/01/2022. Như vậy có đủ căn cứ xác định hồi 10 giờ ngày 17/01/2022, tại khu vực cầu vượt thôn Phúc Long, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, Lô Văn T đã bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ ma túy heroin để đi bán kiếm lời, bị cáo chưa bán được ma túy thì đã bị bắt. Số ma túy thu được trên người T khi bắt quả tang là 0,273gam heroin và thu giữ khi khám xét phòng trọ của T là 0,815 gam heroin.

Đối với việc bị cáo T khai nhận ngày 16/01/2022 đã có hành vi bán trái phép một gói ma túy với giá 200.000 đồng cho một thanh niên không quen biết tại khu đất trống thuộc tổ dân phố MĐ 2, thị trấn Nếnh Việt Yên. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo khai bị cáo không bán mà đã sử dụng hết. Hội đồng xét xử xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra về việc đã bán ma túy cho một người thanh niên được 200.000 đồng thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác phù hợp với lời khai của bị cáo để chứng minh cho hành vi phạm tội trên, do đó không có căn cứ xác định bị cáo có hành vi bán trái phép một gói ma túy vào ngày 16/01/2022. Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo khoản 1 điều 251 BLHS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung là có căn cứ.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người, đây là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 09/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung.

Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên buộc bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, Hội đồng xét xử xét thấy là hoàn toàn phù hợp.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi, căn cứ khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT” và “KX” cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lô Văn T; số tiền 3.000.000 đồng và 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S Plus màu xanh không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh nâu bạc, biển kiểm soát 12V1-161.68, số máy JF86E0470692, số khung 5831LY563126 mang tên Lô Văn T. Quá trình điều tra, chị Lường Thị D xác định là tài sản chung của chị và bị cáo, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, giấy chứng nhận đăng ký mô tô biển kiểm soát trên do Lô Văn T đứng tên, chị Dương và T chưa đăng ký kết hôn, do đó không có căn cứ để xác định đậy là tài sản chung của T và chị D. Đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để đi bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công.

Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12V1-161.68 mang tên Lô Văn T, là giấy chứng nhận chiếc xe bị tịch thu sung công, do đó Hội đồng xét xử xét tịch thu giấy tờ này để xử lý theo vật chứng là xe mô tô bị tịch thu sung công.

. Đối với những người liên quan:

Đối với người tên là H, có đặc điểm khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,70cm, dáng người bình thường, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo khai không biết rõ họ, tên đệm, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại nơi bị cáo khai đã có giao dịch mua bán ma túy với đối tượng trên, tuy nhiên không tìm thấy người có đặc điểm như bị cáo khai, cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để xử lý trong vụ án và tách ra để điều tra tiếp tục làm rõ. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo để đưa ra xử lý đúng quy định của pháp luật,

Đối với anh Nguyễn Ngọc T là chủ nhà nơi T thuê trọ, tuy nhiên, anh T không biết T sử dụng phòng trọ để sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên xác định anh T không phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy là đúng pháp luật.

.Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

. Bị cáo và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:

Căn cứ khoản 1 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung; điểm a,c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106; điều 135, điều 136, điều 331, điều 332, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Lô Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/01/2022.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu sung công: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh nâu bạc, biển kiểm soát 12V1-161.68, số máy JF86E0470692; số khung 5831LY563126 của Lô Văn T.

Tịch thu 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12V1-161.68 mang tên Lô Văn T để xem xét xử lý theo xe mô tô sung công.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT” và “KX”.

- Trả lại cho bị cáo Lô Văn T: 01 căn cước công dân mang tên Lô Văn T, số tiền 3.000.000 đồng và 01 diện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S Plus màu xanh đã cũ.

- Án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ