- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tuyết N với anh Nguyễn Hữu S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tuyết N với anh Nguyễn Hữu S; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 31-8-2022 V/v Ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tuyết Ng với anh Nguyễn Hữu S |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phước.
2. Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 49/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thùy Tuyết N, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Q, xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Q, xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa; hiện ở tại: Thôn M, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 27-11-2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ngô Thùy Tuyết N trình bày:
Chị với anh Nguyễn Hữu S chung sống với nhau có hỏi cưới theo phong tục; cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30-3-2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống và đăng ký thường trú chung tại xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. Cả hai đều làm nghề kinh doanh.
Mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh từ năm 2017. Nguyên nhân là anh S không chăm lo làm ăn, thường ăn nhậu, chơi cờ bạc nên vợ chồng hay gây gỗ, cãi vã nhau. Chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng không thay đổi. Từ tháng 12-2021, anh S bỏ về quê ở xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế sinh sống. Tình trạng kéo dài, tình cảm và trách nhiệm giữa vợ chồng không có nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con: Vợ chồng có một người con chung là cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30-7-2016. Từ khi vợ chồng không chung sống, chị là người nuôi cháu T. Chị yêu cầu giải quyết nuôi con theo quy định của pháp luật, đề nghị giao cháu T cho chị trực tiếp nuôi đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật và không yêu cầu cấp dưỡng gì khác.
Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 22-6-2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Hữu S trình bày:
Anh thừa nhận việc đăng ký kết hôn, điều kiện, hoàn cảnh chung sống và nghề nghiệp, việc làm như chị N trình bày là đúng. Anh thừa nhận giữa vợ chồng có mâu thuẫn và đã không chung sống với nhau nhưng nguyên nhân là quan điểm, lối sống không thống nhất; anh muốn vợ chồng ở riêng nhưng vợ và gia đình không đồng thuận nên vợ chồng thường hay cãi vã nhau. Từ cuối năm 2021, anh chuyển về ở với cha mẹ đẻ tại xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Anh đồng ý yêu cầu ly hôn của chị N.
Về con: Anh thống nhất vợ chồng có một người con chung là cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30-7-2016. Hiện tại, cháu T đang ở với chị N. Sau khi ly hôn, anh đồng ý chị N nhận nuôi con đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh thống nhất không có yêu cầu giải quyết.
Ngày 27-7-2022, chị Ngô Thùy Tuyết N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Ngày 15-7-2022, anh Nguyễn Hữu S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị căn cứ Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Ngô Thùy Tuyết N và anh Nguyễn Hữu S kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống có một người con chung là cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30-7-2016. Trên cơ sở yêu cầu của đương sự và tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị N ly hôn; về con chung giao cháu T cho chị N trực tiếp nuôi đến khi thành niên; các vấn đề khác không có yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn có địa chỉ cư trú thuộc địa bàn thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa nhưng sau khi Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa thụ lý vụ án, bị đơn thay đổi nơi cư trú về ở địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nên Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phong Điền giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu S và chị Ngô Thùy Tuyết N tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30-3-2015. Thời điểm đăng ký, cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thùy Tuyết N, ý kiến của anh Nguyễn Hữu S; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:
Chị N và anh S đều thừa nhận tình trạng mâu thuẫn vợ chồng và đã không chung sống với nhau từ cuối năm 2021. Mặc dù cả hai có ý kiến khác nhau về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn nhưng đều không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm để đoàn tụ. Chứng tỏ, vợ chồng không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình; không có nghĩa vụ và trách nhiệm chung sống để xây dựng gia đình, chăm sóc con cái. Như vậy, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị N ly hôn. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
Về con: Anh Nguyễn Hữu S và chị Ngô Thùy Tuyết N có một người con chung là cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30-7-2016, phù hợp chứng cứ là giấy khai sinh.
Xét yêu cầu giao người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, thấy rằng:
Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Từ khi vợ chồng không chung sống, chị N là người nuôi cháu T. Quá trình tố tụng, anh S có ý kiến thống nhất giao cháu T cho chị N nuôi. Do đó, chấp nhận yêu cầu giao cháu T cho chị N trực tiếp nuôi đến khi thành niên là phù hợp, bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã được phổ biến, giải thích nhưng tự nguyện không yêu cầu nên không xét.
Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm: Tại thời điểm thụ lý, nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc nguyên đơn chịu án phí theo quy định và nộp thêm số tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thùy Tuyết N với anh Nguyễn Hữu S; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 30-7-2016 cho Ngô Thùy Tuyết N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Ngô Thùy Tuyết N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/00006735 ngày 29-12-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; chị N còn phải nộp thêm 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phong Điền; - CCTHADS huyện Phong Điền; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HNGĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trường |