vanban.org

Bản án 93/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Thúy A ly hôn anh Ngô Văn Ch.

Về con chung: Giao Ngô Hoàng B (giới tính nam), sinh ngày 04/3/2013 cho chị Lê Thị Thúy A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn Ch không cấp dưỡng nuôi con. Anh Ngô Văn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Thúy A ly hôn anh Ngô Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Ông Nguyễn Minh Trọn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy A, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ah Ngô Văn Ch, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị Lê Thị Thúy A trình bày: Năm 2011 chị và anh Ngô Văn Ch kết hôn, ngày 28/12/2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng. Nên chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn Ch.

Về con chung, chị và anh Ngô Văn Ch có 01 người con tên là Ngô Hoàng B (giới tính nam), sinh ngày 04/3/2013. Hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay chị yêu cầu giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của chị Lê Thị Thúy A.

QuA điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Thị Thúy A ly hôn anh Ngô Văn Ch. Về con chung, giao con là Ngô Hoàng B (giới tính nam), sinh ngày 04/3/2013 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ch không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Thúy A khởi kiện anh Ngô Văn Ch yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh Ngô Văn Ch cư trú tại ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị Thúy A có yêu cầu xin vắng mặt, anh Ngô Văn Ch được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân, chị Lê Thị Thúy A và anh Ngô Văn Ch kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thúy A và anh Ngô Văn Ch được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị Lê Thị Thúy A xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn vì vậy yêu cầu ly hôn anh Ngô Văn Ch. Anh Ngô Văn Ch đã được thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, được triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thúy A. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị A và anh Ch đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị A ly hôn anh Ch là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, chị Lê Thị Thúy A có yêu cầu được nuôi con là Ngô Hoàng B và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con, anh Ch không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị A. Xét thấy, con chung hiện đang sống với chị A, đồng thời Ngô Hoàng B cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị A, do đó để ổn định tâm lý, môi trường sống và học tập của con chung nên giao cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng con chung là có căn cứ. Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Chị Lê Thị Thúy A và anh Ngô Văn Ch không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Lê Thị Thúy A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị A đã nộp tạm ứng xong, nay chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Thúy A ly hôn anh Ngô Văn Ch.

2. Về con chung: Giao Ngô Hoàng B (giới tính nam), sinh ngày 04/3/2013 cho chị Lê Thị Thúy A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn Ch không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ngô Văn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Thúy A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0017831 ngày 05 tháng 5 năm 2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, như vậy chị Lê Thị Thúy A không còn phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Lê Thị Thúy A và anh Ngô Văn Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ