- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thụy Khánh A tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con và chia tài sản khi ly hôn với Anh Nguyễn Thanh S” với"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thụy Khánh A được ly hôn với anh Nguyễn Thanh S. Giấy chứng nhận kết hôn số số 15, ngày 27/01/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thụy Khánh A và anh Nguyễn Thanh S không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệ…
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 93/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 3 - 2022 V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con và chia tài sản khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thái Quân
2. Ông Nguyễn Đình Phùng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 297/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021, tranh chấp về Hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thụy Khánh A, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: tổ 23, ấp Phú Q, xã Phú A, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: số 899, tổ 26, ấp Phú Q, xã Phú A, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Chị A có mặt và anh S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 9/11/2021 bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thụy Khánh A trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, chị và anh S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 27/01/2011. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề kinh tế gia đình, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 6 năm 2020 cho đến nay, không hành gắn mà mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh S. Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung tên Nguyễn Thị Khánh Ng sinh ngày 28/12/2008 và Nguyễn Thị Thanh Ng sinh ngày 03/5/2020, hiện cháu Khánh Ng đang sống với anh S nên đồng ý cho anh S tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; Chị A yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng Thanh Ng, không yêu cầu cấp dưỡng cho con lẫn nhau. Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện chị A yêu cầu được chia ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng gồm: 01 xe máy hiệu Jupier trị giá 15.000.000đ, 01 xe máy hiệu Vavio trị giá 40.000.000đ hiện do anh S đang quản lý. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị A rút lại toàn bộ yêu cầu về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có ý kiến nào khác. Về nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có ý kiến nào khác.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
- Về nội dung: Hôn nhân của chị A và anh S được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị An xin ly hôn và nuôi con chung là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị An khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S và nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn S là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Quới, xã Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2011 trên cơ sở tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ năm 2020 đến nay, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh, chị mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được điều này phù hợp với lời trình bày của ông Nguyễn Văn T (cha của anh S); do đó, chị A yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị A và anh S có 02 con chung tên Nguyễn Thị Khánh Ng sinh ngày 28/12/2008 và Nguyễn Thị Thanh Ng sinh ngày 03/5/2020, hiện cháu Khánh Ng đang sống với anh S. Chị A đồng ý cho anh S tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Khánh Ng, chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng Thanh Ng, không yêu cầu cấp dưỡng cho con lẫn nhau.
Xét, từ khi ly thân đến nay, cháu Khánh Ng do anh S chăm sóc nuôi dưỡng và cháu Thanh Ng (chưa đủ 7 tuổi) do chị Khánh A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo 02 cháu phát triển bình thường về thể chất, tinh thần nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên tiếp tục giao cháu Khánh Ng cho anh S, giao cháu Thanh Ng cho chị Khánh Atrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến thành niên, tự lập được; chị A và anh S không phải cấp dưỡng cho con lẫn nhau; chị A và anh S phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để khi anh hoặc chị đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con; mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị A, anh S không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về tài sản chung: Chị A có đơn rút lại yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn, xét, việc rút lại yêu cầu chia tài sản chung là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị A và anh S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét. [3] Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Anh S không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thụy Khánh A được ly hôn với anh Nguyễn Thanh S. Giấy chứng nhận kết hôn số số 15, ngày 27/01/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thụy Khánh A và anh Nguyễn Thanh S không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thụy Khánh A được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thanh Ng sinh ngày 03/5/2020 đến thành niên, tự lập được.
Anh Nguyễn Thanh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Khánh Ng sinh ngày 28/12/2008 đến thành niên, tự lập được.
Chị A và anh S không phải cấp dưỡng cho con lẫn nhau.
Chị A và anh S phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh, chị đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn của chị Nguyễn Thụy Khánh A.
Về nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị chị Nguyễn Thụy Khánh A phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 1.000.000 đồng theo biên lai thu số 0004118 ngày 19/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; còn lại 700.000đ hoàn trả cho chị A.
Anh Nguyễn văn S không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - UBND xã Phú An, huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Bích Tuyền |