vanban.org

Bản án 93/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trượng Thị Mỹ S đối với bị đơn anh Bá Hồng S1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ”.

Về hôn nhân: chị Trượng Thị Mỹ S được ly hôn với anh Bá Hồng S1; Về con chung: Giao con chung là cháu Bá Hoàng Duy K – Sinh ngày: 25-12-2013 cho chị Trượng Thị Mỹ S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu đang ở cùng với chị S). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trượng Thị Mỹ S đối với bị đơn anh Bá Hồng S1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ”.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2022/HNGĐ
Ngày: 07-12-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông phạm Y

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 221/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trượng Thị Mỹ S - Sinh năm: 1994 – Có mặt

Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: anh Bá Hồng S1 - Sinh năm: 1992 – Vắng mặt lần thứ 2, không có lý do.

Địa chỉ: khu phố x, thị trấn P1, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 15-6-2022 và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Bá Hồng S1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật theo giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 10-3-2014 của Ủy ban nhân dân xã P. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại khu phố 13, thị trấn P1. Trong thời gian chung sống với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh S1 không chịu làm ăn, bỏ mặc chị và con. Từ năm 2017 cho đến nay, chị không còn chung sống với anh S1 nữa, trong thời gian này không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục về chung sống với nhau nên khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh S1.

Về con chung: chị và anh S1 có một con chung là cháu: Bá Hoàng Duy K, sinh ngày 25/12/2013. Từ năm 2017 cho đến nay, chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh S1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

* Bị đơn trình bày: bị đơn anh Bá Hồng S1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lên lấy lời khai, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về thời gian, địa điểm xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến trình bày.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do chính đáng nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trượng Thị Mỹ S với bị đơn anh Bá Hồng S1 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; chị S phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

. Quan hệ tranh chấp được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Bị đơn anh Bá Hồng S1 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Bá Hồng S1.

. Nội dung vụ án:

. Về yêu cầu Ly hôn: Xét lời trình bày của chị Trượng Thị Mỹ S về tình trạng hôn nhân, phù hợp với Biên bản xác minh ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện N tại chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị Trượng Thị Mỹ S và anh Bá Hồng S1 chung sống, nên có đủ cơ sở để xác định được: Do bất đồng quan điểm sống nên từ năm 2017 cho đến nay, chị S và anh S1 không còn chung sống với nhau nữa, trong thời gian này không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Điều này đã chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận cho chị S được ly hôn với anh S1.

. Về yêu cầu nuôi con chung: Xét chị S yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có cơ sở bởi lẽ: chị S có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung; từ năm 2017 cho đến nay, chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con. Chị S không yêu cầu anh S1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc chị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trượng Thị Mỹ S đối với bị đơn anh Bá Hồng S1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ”.

1. Về hôn nhân: chị Trượng Thị Mỹ S được ly hôn với anh Bá Hồng S1;

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bá Hoàng Duy K – Sinh ngày: 25-12-2013 cho chị Trượng Thị Mỹ S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu đang ở cùng với chị S).

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Trượng Thị Mỹ S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Trượng Thị Mỹ S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002582 ngày 15-6-2022, chị Trượng Thị Mỹ S đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ