- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Giàng A L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Bản án số 93/2021/HSST Ngày 07 tháng 09 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Hữu Hưởng
2. Ông Phùng Quốc Quân.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 09 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 08 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 08 năm 2021 đối với bị cáo:
Giàng A L, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1977, nơi ĐKHKTT: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá lớp 3/12; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không.
Con ông Giàng A C, sinh năm 1953 và bà Lý Thị D, sinh năm 1953,
Vợ: Sồng Thị C, sinh năm 1979. Hiện đều trú tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 04 năm 2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A L1, sinh năm 1998, nơi ĐKHKTT: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tòng Văn Minh, luật sư thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn la. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 ngày 15/04/2021 Giàng A L điều khiển xe máy đi từ nhà đến trạm y tế xã B, huyện Mai Sơn để uống thuốc Methadone điều trị cho người nghiện ma túy, sau khi uống thuốc xong L gọi điện thoại cho Giàng A Thông, sinh năm 1990, trú tại bản Lọng hỏm, xã Phiềng Cằm, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La hỏi mua ma túy, Thông đồng ý, L điều khiển xe máy đi mua ma túy của Giàng A Thông được 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 190 viên hồng phiến với giá 2.500.000đ, sau khi mua ma túy L cất ma túy trên người và điều khiển xe máy về nhà, đang trên đường đến về đến bản Lậm Pút, xã B thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng trong vụ án gồm: 190 viên hồng phiến có tổng khối lượng là 18,63 gam ma túy, kết luận giám định là Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS-QN ngày 16/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Giàng A L về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa: Vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 gói được gói bằng nilon màu xanh bên trong chứa 185 viên nén màu hồng là methamphetamine và 01 ví da màu đen.
Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu vàng đồng kèm 01 sim có số thuê bao 0838278617 của bị cáo Giàng A L.
Đề nghị trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung 1217DY601273, số máy HC 12E 5601363 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003524 mang tên Giàng A L1 cho Giàng A L1.
Quan điểm của người bào chữa đối với bị cáo: Xác định tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sống ở khu vực thuộc xã vùng ba - vùng đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình , đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo Giàng A L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án, Xét thấy việc khởi tố, truy tố, điều tra của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về đường lối giải quyết vụ án.
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mai Sơn lập vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 15/04/2021 đối với bị cáo Giàng A L cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 190 viên hồng phiến, bị cáo thừa nhận là chất ma túy có tổng khối lượng là 18,63 gam.
Tại bản kết luận giám định số 808/KLMT ngày 16/04/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu M1 trong vụ án Giàng A L là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 2.500.000đ đi mua được 01 gói ma túy của Giàng A Thông với mục đích cất giữ trên người để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 5 năm đến 10 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
- Xét tính chất vụ án:
Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản gì đáng giá, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai nhận mua của Giàng A Thông, sinh năm 1990, trú tại bản Lọng Hỏm, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã tiến hành triệu tập đối với Giàng A Thông để đối chất, nhưng quá trình đối chất Giàng a Thông không thừa nhận việc bán trái phép chất ma túy cho Giàng A L, ngoài lời khai của Giàng A L ra không có căn cứ nào khác chứng minh Giàng A Thông bán ma túy cho Giàng A L, do vậy buộc Giàng A L phải chịu trách nhiệm độc lập toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ đúng pháp luật, cần chấp nhận.
Xét quan điểm bào chữa của luật sư đối với bị cáo cơ bản là đảm bảo đúng quy định của pháp luật, nhưng về tình tiết đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vì bị cáo đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình là chưa thỏa đáng, bởi hành vi phạm tội của bị cáo là bị bắt quả tang và khi được cơ quan điều tra yêu cầu thì bị cáo đã tự nguyện lấy ma túy đang cất giữ trên người giao nộp cho cơ quan điều tra, không phải vụ án được phát hiện trước đó rồi bị cáo mới ra đầu thú, do vậy tình tiết luật sư đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Vật chứng vụ án: 18,63 gam Methamphetamine đã trích 05 viên = 0,46 gam làm mẫu gửi giám định không hoàn lại, số còn lại 185 viên = 18,17 gam, xét là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, sử dụng và tàng trữ trên thị trường, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 giấy nilon màu xanh gói số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang Giàng A L là những vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu vàng đồng kèm 01 sim có số thuê bao 0838278617 xét là điện thoại và sim bị cáo thừa nhận sử dụng liên lạc để mua số ma túy trong vụ án, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
01 ví da màu đen đã qua sử dụng, bị cáo dùng để cất giữ số ma túy khi bị bắt quả tang, xét là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu honda Wave, màu trắng, số khung 1217DY601273, số máy HC12E5601363 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003524 mang tên Giàng A L1, xét là tài sản thuộc quyền sở hữu của Giàng a L1, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội ông Giàng A L1 không biết, cần trả lại xe máy và giấy đăng ký xe trên cho Giàng A L1.
Án phí: Bị cáo Giàng A L là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, thuộc xã vùng ba, cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 của nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 04 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để miễn án phí cho bị cáo Giàng A L.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng A L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng A L.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 18,17 gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 gói được gói bằng nilon màu xanh gói số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang Giàng A L.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu vàng đồng kèm 01 sim có số thuê bao 0838278617 được chứa trong 01 phong bì thư 22cm x 12cm do Công an huyện Mai Sơn phát hành.
- Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen đã qua sử dụng, bị cáo dùng để cất giữ số ma túy khi bị bắt quả tang.
- Trả lại cho Giàng A L1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu honda Wave, màu trắng, số khung 1217DY601273, số máy HC12E5601363 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003524 mang tên Giàng A L1, xét là tài sản thuộc quyền sở hữu của Giàng A L1, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội ông Giàng A L1 không biết.
3. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A L
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |