vanban.org

Bản án 93/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lương Thanh T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2021. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2021/HS-ST
Ngày 29-6-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu

Bà Lê Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2021/TLST-HS ngày 31/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2021/QĐXXST-HS ngày 07/6/2021 đối với bị cáo:

Lương Thanh T, sinh năm 1999; HKTT: Bản M, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giớ i tính: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn L, sinh năm 1979 và con bà Hà Thị T, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lô Đức D, sinh năm 1995 (vắng mặt)

HKTT: Bản M, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An

Hiện nay đang thuê trọ tại xóm G, thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 02/3/2021, tại khu vực ngã ba đường thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Tiên Du bắt quả tang Lương Thanh T đang bán cho đối tượng tên Q 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa một viên nén hình tròn màu hồng. Công an thu giữ của T trong túi áo khoác sườn bên trái của T đang mặc số tiền 100.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen và 01 xe đạp điện nhãn hiệu LTP BIKE – 133S8, màu đen. Công an thu giữ của Q tại lòng bàn tay trái 01 túi nilông màu hồng bên trong có 01 viên nén hình tròn màu hồng và 01 điện thoại Nokia 1034 màu đen. Hồi 17 giờ 30 ngày 02/3/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Lương Thanh T ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét đã thu giữ 01 ví giả da nam màu nâu, bên trong có một chứng minh thư nhân dân mang tên Lương Thanh T

Tại Bản kết luận giám định số 240/KLGĐMT-PC09, ngày 04/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: “01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon màu hồng gửi giám định có khối lượng 0,0951 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine”

Với nội dung trên, Cáo trạng số 60/CT - VKS ngày 30/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Lương Thanh T về tội“Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ cuối năm 2020. Khoảng giữa tháng 2/2021, bị cáo có mua 05 viên ma túy tổng hợp với giá 250.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại rìa đường thuộc địa bàn T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Sau đó, bị cáo mang ra phòng trọ của mình ở thôn Đ, xã Đ để sử dụng dần và bán cho người có nhu cầu mua kiếm lời. Bị cáo đã sử dụng hết 02 viên, bán cho người lạ 02 viên. Đến trưa ngày 02/3/2021 có người bạn mới quen tên Quý gọi điện hỏi mua 100.000 đồng ma túy. Do còn 01 viên ma túy trong người nên bị cáo đồng ý và hẹn Quý đi ra ngã ba thôn Đ, xã Đ để bán. Sau đó, bị cáo mượn một chiếc xe đạp điện của anh Lô Đức D để đi gặp Q. Khi gặp Q tại điểm hẹn bị cáo đưa ma túy cho Q và nhận 100.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang. Bị cáo muốn xin lại chứng minh nhân dân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Khi bị cáo T mượn xe đạp điện nhãn hiệu LTP BIKE – 133S8 màu đen anh không biết sử dụng đi bán ma túy. Vì vậy anh muốn xin lại chiếc xe đạp điện trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 60/CT- VKS ngày 30/5/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Lương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Thanh T từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật ma túy sau giám định, 01 ví giả da màu nâu.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng, 01 điện thoại Nokia 1034 màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen.

- Trả lại bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Thanh T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại anh Lô Đức D 01 xe đạp điện nhãn hiệu LTP BIKE – 133S8 màu đen.

Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i d iệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 02/3/2021, tại khu vực ngã ba đường thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Lương Thanh T đã thực hiện hành vi bán trái phép 0,0951 gam ma túy Methamphetamine cho một người thanh niên tên Q thu về số tiền 100.000 đồng. Căn cứ vào khối lượng ma túy, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác.... Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt nhưng là đối tượng sử dụng trái phép ma túy. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nhưng từ chối hưởng trợ giúp pháp lý. Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Ngoài ra, bị cáo có ông nội được Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam tặng Bằng khen. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính tuy nhiên bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc ví giả da màu nâu giá trị sử dụng thấp, bị cáo không xin lại nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Quá trình giao dịch mua bán trái phép chất ma túy, đối tượng Q có trả bị cáo số tiền 100.000 đồng và 02 chiếc điện thoại bị cáo cùng đối tượng Q sử dụng để liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Quá trình điều tra Công an có thu giữ 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Thanh T, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu LTP BIKE – 133S8 màu đen của anh Lô Đức D khi cho bị cáo mượn không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy nên Hội đồng xét xử trả lại anh D chiếc xe đạp điện trên.

Liên quan trong vụ án có đối tượng tên Q, khi bị bắt quả tang và làm việc với cơ quan Công an khai nhận có họ tên là Na Văn Q, sinh năm 1998; HKTT ở thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 02/3/2021, lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh theo tên tuổi, địa chỉ nêu trên cùng việc xác minh số điện thoại thu giữ của Q, tuy nhiên chưa xác định được con người cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với anh Lô Đức D, Nguyễn Văn L không biết và không liên quan đến hành vi mua bán ma túy trái phép giữa bị cáo T và Q nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với người đàn ông lạ đã bán ma túy cho T, căn cứ lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với người lái taxi chở Q, L đi mua ma tuý. Các đối tượng Q, L khai nhận không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này và cũng không nói cho lái xe biết là đi mua ma túy. Do vậy không đủ căn cứ để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Căn cứ kết quả kiểm tra ngày 02/3/2021, xác định Lương Thanh T dương tính với chất ma túy. Bị cáo T khai nhận trước ngày bị bắt quả tang đã sử dụng ma túy ở cánh đồng vắng nhưng không biết địa điểm cụ thể tại đâu. Do vậy không xác định được thẩm quyền xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lương Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Lương Thanh T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2021.

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật ma túy sau giám định được niêm phong dán kín mép dán, trên mép dán có chữ ký niêm phong của giám định viên và dấu đỏ của phòng PC09 – Công an tỉnh Bắc Ninh có số 240 ghi ngày 04/3/2021 ngoài phong bì; , 01 ví giả da màu nâu.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 01 điện thoại Nokia 1034 màu đen trong gắn thẻ simcard, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen trong gắn thẻ sim.

- Trả lại bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Thanh T số 187831323 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại anh Lô Đức D 01 xe đạp điện nhãn hiệu LTP BIKE – 133S8, màu đen không gắn biển kiểm soát, số máy: không có, số khung LTP BIKE 11/4/2018/004.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2021)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án./.

Cỡ chữ