- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Đào Văn M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 93/2021/HNGĐ-ST Ngày 23/07/2021 (V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình) TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ - TỈNH HƯNG YÊN Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên. - Các Hội thẩm nhân dân: thanh niên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoàn Long). Bà Nguyễn Thị Hằng – Trưởng phòng dân số huyện Yên Mỹ. huyện Yên Mỹ. Trang – Kiểm sát viên. sơ thẩm công khai vụ án Tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số 35/2021/TLST - 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2021 giữa các đương sự: * Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T – Sinh năm 1983. Vắng mặt Trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. * Bị đơn: anh Đào Văn M – Sinh năm 1980. Vắng mặt Trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. * Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn V, Sinh năm 1958. Vắng mặt Trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. | Ngày 23 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn M lấy nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 11/11/2014.
Theo nguyên đơn chị T trình bầy: Sau khi tổ chức lễ cưới xong hai bên chung sống cùng nhau tại gia đình nhà anh M ở xã T. Vợ chồng chung sống với nhau bình thường được đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra va chạm cãi nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do giữa vợ chồng có nhiều sự bất đồng với nhau trong quan điểm sống của nhiều lĩnh vực, ngoài ra anh M còn là ngườ i chơi bờ i, không chi ̣u tu chi lá ̀m ăn, gây ảnh hưở ng nhiều đến kinh tế gia đình, chị đã nhiều lần tham gia nhưng anh M vẫn không chi ̣u thay đổi. Do chuyện mâu thuẫn vợ chồng lên chị đã từng hai lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Lần thứ nhất vào khoảng giữa năm 2015, chị bỏ về được khoảng hơn 01 tháng thì anh M cứ níu kéo và gia đình tham gia nên chị lại về chung sống. Lần thứ hai vào tháng 8/2019, chị về được khoảng gần một năm và cũng đã từng nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó cũng vì anh M nhiều lần đến tìm gặp muốn hàn gắn nên chị lại chấp nhận quay về chung sống. Tuy nhiên, từ khi về tiếp tục chung sống cho đến nay thì giữa chị và anh M vẫn không thể tìm được tiếng nói chung, vẫn bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra va chạm, anh M vẫn tiếp tu ̣c chơi bờ i. Nay chị xét thấy vợ chồng đã chung sống một thời gian dài nhưng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau nên cần thiết phải giải quyết ly hôn, không thể tiếp tục chung sống được nữa.
Chị và anh M không có con chung nên chị không yêu càu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác và công sức: Chị T không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì.
Bị đơn anh M trình bầy: Về quá trình đăng ký kết hôn, quá trình chung sống cơ bản đúng như chị T trình bầy. Anh M cũng xác định việc vợ chồng có xảy ra va chạm và chị T đã từng 03 lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ, từng làm đơn xin ly hôn gửi ra Tòa như chị T trình bầy là đúng, lý do xảy ra mâu thuẫn vì anh chơi bời và và chị T nghi ngờ anh không chung thủy nên xảy ra việc ghen tuông. Nay anh không đồng ý ly hôn vì chị T chưa được sự đồng ý của anh đã bỏ đi khỏi nhà anh và làm đơn xin ly hôn, gây ảnh hưởng mang tai tiếng không tốt cho anh. Anh và chị T chưa có con chung, về tài sản, công nợ và ruộng canh tác anh không yêu cầu Tòa án giải quyết gì.
Tòa án cũng đã tiến hành làm việc với đại diên gia đình chị T, đại diện lãnh đạo thôn H và Ủy ban nhân dân xã T. Kết quả làm việc cho thấy việc kết hôn và quá trình chung sống của vợ chồng cơ bản đúng như chị T trình bầy.
Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn chị có quan điểm giữ nguyên toàn bộ ý kiến như nêu ở trên.
- Bị đơn anh Đào Văn M vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ xác định toàn bộ quá trình giải quyết, điều tra, xác minh vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành, còn bị đơn chưa chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện VKSND huyện Yên Mỹ có quan điểm:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị T ly hôn anh M.
- Về con chung: Chị T và anh M không có con chung, nên không phải xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác và công sức: chị T và anh M không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe lời trình bày của đương sự, quan điểm của đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện Yên Mỹ giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Văn M nên quan hệ pháp luật tranh chấp là Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; anh M cư trú tại huyện Yên Mỹ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Yên Mỹ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, nguyên đơn chị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do, người làm chứng đã có lời khai đầy đủ nên việc tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh M là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống do xuất phát từ việc bất đồng quan điểm và việc anh M chơi bời, gây ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2015, nhiều lần xảy ra va chạm, chị T đã nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống trong một thời gian dài. Mâu thuẫn giữa vợ chồng diễn ra ngày càng căng thẳng, trầm trọng hơn. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh M có ý kiến không đồng ý ly hôn, tuy nhiên lý do anh đưa ra là hoàn toàn không thuyết phục, nhiều lần Tòa án tổ chức các buổi hòa giải tình cảm vợ chồng anh M đều vắng mặt, anh M cũng không đưa ra bất cứ phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh M đã kéo dài và trở lên trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên việc xử cho chị T được ly hôn anh M phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về con chung: Chị T và anh M không có con chung, nên không phải xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác và công sức: Chị T và anh M trong quá trình giải quyết đều không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này bên nào có yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ kiện khác.
5. Về án phí: Chị T phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định tại của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Đào Văn M.
- Về con chung: Chị T và anh M không có con chung, nên không phải xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác và công sức: chị T và anh M không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn chị T phải nộp 300.000đ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, đối trừ với số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0003469 ngày 15/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ, chị T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị T và bị đơn anh M đều vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận - VKSND huyện Yên Mỹ. - Chi cục THA huyện Yên Mỹ. - TAND tỉnh Hưng Yên. - UBND xã T. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Kiên |