- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2020/HS-ST Ngày 22-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Pản và ông Vũ Duy Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Mai Chi -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2020/TLST-HS ngày 09/7/2020,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2020/QĐXXST- HS ngày 11/7/2020 đối với bị cáo:
Trần Lâm T, sinh ngày: 30/10/1991, tại bệnh viện Bạch Mai, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Đình D, sinh năm: 1948 và bà Vi Thị H, sinh năm: 1954, bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 10/5/2020, tại khu vực tổ 2, phường C, thành phố S, Công an phường Chiềng Lề phát hiện và bắt quả tang Trần Lâm T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa cục bột màu trắng. T tự giác giao nộp khi đang cầm trong lòng bàn tay phải, khai nhận là Heroine cất giữ để sử dụng.
Quá trình điều tra bị can Trần Lâm T khai nhận như sau: Do bản thân có sử dụng chất ma túy, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 10/5/2020, T đi bộ từ nhà tại bản Hẹo, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La đến khu vực bản Lầu, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T mua được của một người nam giới, không biết họ, tên, địa chỉ 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng là Heroine với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 2, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác phát hiện, bắt giữ.
Ngày 10 tháng 5 năm 2020, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả: Số cục bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,29 gam; lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1. Còn lại 0,18 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T2.
Ngày 10 tháng 5 năm 2020, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1374/QĐ-ĐCSKT-MT Trưng cầu giám định phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ trong vụ án.
Kết luận giám định số: 747 ngày 12/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,29 gam; loại Heroine”
Tại bản Cáo trạng số 142/CT- VKSTP ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Lâm T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Lâm T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Lâm T từ 14 (Mười bốn) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 10/05/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh; 0,18 gam Heroine.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Lâm T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Lâm T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 10/05/2020; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 10/5/2020 bị cáo Trần Lâm T đã có hành vi tàng trữ 0,29 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, ngày 24/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, xử phạt 24 (Hai bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh; 0,18 gam Heroine, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo (Như bị cáo đã khai) do bị cáo không biết rõ tên, địa chỉ, lai lịch của người này. Do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Lâm T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày: 10/05/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong đựng 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh; 0,18 gam Heroine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Lâm T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Sơn La;
(Đã ký)
- VKSND thành phố Sơn La;
Nguyễn Anh Đức
- Công an thành phố Sơn La;
- Chi cục THADS thành phố Sơn La;
- Trại giam;
- THAHS;
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ, VP.
CÁC HỘI THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Đức
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. CÁC HỘI THẨM | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Đức THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Đức |