- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Viết T 01 (một) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụ ng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì màu trắng niêm phong; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 93/2019/HSST Ngày: 26/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tươi
2. Bà Võ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93 /2019/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Viết T - Sinh năm 1992, tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Khối A, phường Điện N, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Công nhân (Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam); trình độ học văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Viết G và bà Nguyễn Thị P (đã chết), bị cáo có vợ tên Trần Thị T và 01 con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 08/01/2019 bị Công an thị xã Điện Bàn xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi Cố ý làm thiệt hại tài sản của người khác. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, lưu giam Công an thị xã Điện Bàn, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Khối A, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Người làm chứng:
+ Ông Đỗ Thế Đ, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Số N, đường T, thành phố Đà Nẵng.
+ Ông Đoàn Lưu Quan T, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tổ Z, phường M, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
(Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại
phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, Công an thị xã Điện Bàn tiến hành kiểm tra tại quán karaoke Z2 thuộc khối phố Quảng Hậu, phường Điện Nam Trung. Qua kiểm tra tại phòng Vip6 phát hiện Lê Viết T và Nguyễn Thành N đang chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy. Trên bàn trong phòng phát hiện một đĩa sứ màu trắng có chứa chất bột màu trắng, N và T khai nhận là ma túy dạng khay mà cả hai đang chuẩn bị sử dụng. Tiếp tục kiểm tra trong túi quần của Lê Viết T có một viên nén màu cam, Lê Viết T khai đây là thuốc lắc mà T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ và niêm phong tang vật.
Kết luận giám định số 935/C09C(Đ4) ngày 19/9/2019 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất rắn màu trắng (dạng bột) là Ketamine, có khối lượng mẫu là 0,259 gam, viên nén màu cam là MDMA, khối lượng 0,183 gam.
Qua điều tra Nguyễn Thành N và Lê Viết T khai nhận rủ nhau chung tiền mua ma túy dạng khay về sử dụng. Nhân là người trực tiếp liên hệ với người tên Nho (không xác định được lai lịch) để mua ma túy khay với giá 2.000.000 đồng. Trong lúc cả hai chuẩn bị sử dụng thì bị Công an kiểm tra thu giữ.
Đối với viên nén màu cam, Lê Viết T khai nhận đây là ma túy T được một bạn không rõ lai lịch cho khi đi dự sinh nhật tại Đà Nẵng. T mang về cất giấu để sử dụng thì bị phát hiện, N không biết việc T cất giấu viên ma túy trên.
- Về vật chứng:
+ 01 gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì đánh số 01; 01 gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa một viên nén màu cam, được niêm phong trong phong bì đánh số 02.
+ 01 đĩa tròn, màu trắng; 01 đoạn ống hút được làm từ tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, bên ngoài được bọc bằng giấy màu vàng; 01 thẻ card màu đen có in chữ vip Men Fashion.
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, bên trong có hai sim số 0905.398.495 và 0935.011.707 thu giữ của Lê Viết T; 01 điện thoại di động hiệu oppo màu bạc, bên trong có sim số 0393.953.694 thu giữ của Nguyễn Thành N.
+ 01 xe môtô hiệu SH màu đen, BKS 92D1-35407 do Lê Viết T đứng tên chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 04 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Viết T để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Viết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 từ 15 tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụ ng Hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy một phong bì màu trắng niêm phong số 935/C09C(Đ4); 01 thẻ card màu đen có in chữ vip Men Fashion và tịch thu sung công quỹ 01 đoạn ống hút được làm từ tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
Đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận điều tra và quyết định truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cá o đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình . Lời khai của bị cá o được thẩ m tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ á n nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 0 giờ ngày 12/9/2019, Lê Viết T đã có hành vi tàng trữ 0,183 gam ma túy loại MDMA và 0,259 gam Ketamine để sử dụng cho bản thân. MDMA là chất ma túy STT 27 Danh mục 1B, Ketamine là chất ma túy STT 35 Danh mục 3 ban hành kèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP, đây là các chất ma túy bị cấm sử dụng và chỉ được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học. Do đó, hành vi tàng trữ của bị cá o là vi phạm pháp luật và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
Đánh giá, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , không chỉ xâm phạm trự c tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước , mà còn gây ảnh hưở ng xấu đến an n inh, trật tự và an toàn xã hội . Ma túy tổng hợp MDMA (matylen dioxymetamphetamine) và Ketamin là một hợp chấ t kí ch thí ch thầ n kinh được xế p vào danh mục các chấ t ma túy rất nguy hiểm, khi sử dụng sẽ gây tác động trực tiếp lên hệ thần kinh dẫn đến sai lệch về nhận thức là nguyên nhân gây nên các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo T hiểu rõ tác hại của ma túy, bản thân bị cá o có đủ năng lự c trách nhiệm hình sự , nhận thức được tính chất , mức độ và hậu quả của hành vi do mình thự c hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Đồng thời với tình hình tội phạm ma túy hiện nay, ngày càng nhiều các đối tượng tàng trữ và sử dụng ma túy nên cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tiếp tục có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố bị cáo khai báo thành khẩ n, có thái độ ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có nhiều người thân tham gia cống hiến cho Cách mạng: Có bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cha ruột là thương binh; bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ có thời gian phục vụ trong quan ngũ, là sĩ quan dự bị; hoàn cảnh gia đình khó khăn cha già, con nhỏ nên xem xét áp dụ ng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện để cho bị cáo sớm có điều kiện về hòa nhập cộng đồng chăm lo cho gia đình.
Những vấn đề liên quan:
Đối với Nguyễn Thành N có hành vi tàng trữ 0,259 gam Ketamine do chưa đủ định lượng để truy tố nên Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Điện Bàn để xử lý hành chính là đúng quy định.
Đối với người đã cho Lê Viết T 01 viên nén màu cam là MDMA do T khai không rõ lai lịch nên không có cơ sở xác minh.
Đối với đối tượng tên N đã bán ma túy cho N. Qua lời khai xác định đối tượng tên N sử dụng số điện thoại 0934.780.559. Cơ quan CSĐT đã gởi yêu cầu tra cứu nhưng chưa có kết quả. Khi nào có kết quả sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
+ 01 xe môtô hiệu Sh màu đen, BKS 92D1-35407 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, có gắn sim số 0905.398.495 và 0935.011.707 của Lê Viết T, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT trả cho bị cáo là phù hợp.
+ 01 đĩa sứ màu trắng, các bị cáo dùng sử dụng ma túy nhưng chủ sở hữu không biết nên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo bên trong có sim số 0393.953.694 của Nguyễn Thành N. Do liên quan đến việc sử dụng vào mục đích mua ma túy nên đề nghị Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ để xác minh, khi nào có kết quả xử lý sau.
+ 01 phong bì màu trắng niêm phong số 935/C09C(Đ4); 01 thẻ card màu đen có in chữ vip Men Fashion. Đây là số ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụ ng Hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy.
+ Đối với 01 đoạn ống hút được làm từ tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, bên ngoài được bọc bằng giấy màu vàng, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụ ng Hình sự tuyên tịch thu sung công quỹ.
Về án phí: : Bị cáo Lê Viết T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Viết T phạm tội: “Tàng trữ trá i phé p chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Viết T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam 26/9/2019.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụ ng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy
một phong bì màu trắng niêm phong số 935/C09C(Đ4); 01 thẻ card màu đen có in chữ vip Men Fashion và tịch thu sung công quỹ 01 đoạn ống hút được làm từ tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn theo Quyết định chuyển vật chứng số 50/QĐ-VKS ngày 04/11/2019, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2019)
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Viết T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 luật thi hành án dân sự Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Ủy ban kiểm tra thị ủy Điện Bàn; - Những người tham gia tố tụng; - Nhà tạm giữ Công an Điện Bàn - Lưu | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Thúy Vân |