- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đức V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đức V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2019/HS - ST Ngày: 08-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bạn
Ông Hoàng Văn Mùi
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 8 th¸ng 11 n¨m 2019, tại nhà văn hóa khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2019/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2019/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Đức V, sinh năm 1980 tại Chí Linh, Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Khu dân cư N 7, phường T, thành phố C, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa(học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Đức N và con bà Nguyễn Thị L; có vợ: Nguyễn Thị T(đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2011 ; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 92/HSST-TA ngày 25/11/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt Đặng Đức V về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. V đã chấp hành xong bản án ngày 30/8/2006.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 10/8/2019 đến ngày 13/8/2019 thì tạm giam tại Trại tạm giam K, Công an tỉnh H. Có mặt.
- Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 6 phút ngày 10 tháng 8 năm 2019, Đặng Đức V là người nghiện ma túy đã sử dụng điện thoại Iphone 5 màu trắng bạc, bên trong lắp sim 0967.710.758 gọi điện đến số điện thoại của người thanh niên tên C(hiện không rõ nhân thân, lai lịch của người này) hỏi mua 300.000đồng ma túy để về sử dụng cho bản thân. V và C thỏa thuận giao ma túy và giao tiền để ở tại cột điện gần cổng trường Tiểu học S I thuộc khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh H. Sau đó, V đi xe ôm đến gần trường Tiểu học S I, xuống đi bộ đến cột điện lấy 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, bên trong chứa chất ma túy đút vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc và để lại số tiền 300.000đồng. Hồi 9 giờ 30 phút cùng ngày, V đi xe ôm đến ngã ba giao cắt giữa đường N và đường T, V xuống xe đi bộ thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải V đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (2x2,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động Iphone 5, màu trắng bạc, số IMEI 090002815622947, bên trong lắp sim số 0967.710.758.
Tại bản kết luận giám định số 313/KLGĐ-PC09 ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Chất rắn(dạng tinh thể) màu trắng, niêm phong trong phong bì ghi thu của Đặng Đức V gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,288g là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 98/CT-VKSCL ngày 22 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H đã truy tố Đặng Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố bị cáo Đặng Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51;; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 313/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, mặt sau phong bì có 3 dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng 0,194 gam Metham phetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi ni lông màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0967710758 đã qua sử dụng. Tịch thu và phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphong 5, màu trắng bạc, số IMEI 990002815622947 đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đặng Đức V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2019, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường N và đường T thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh H, Đặng Đức V có hành vi cất giấu trái phép 0,288 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang nên đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của mình mà cất giữ ma túy bất hợp pháp và làm mất trật tự an toàn xã hội. Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng có hành vi vi phạm pháp luật, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo cũng không lấy đó là bài học mà tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội sau nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Vì thế, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã thu giữ số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,194 gam Methamphetamine và vỏ bao gói mẫu được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 313/KLGĐ-PC09 của Phòng K Công an tỉnh H đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho hủy bỏ; nên cần tịch thu cho tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với chiếc Iphong 5, màu trắng bạc, số IMEI 990002815622947, bên trong lắp sim số 0967710758, đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Trong vụ án, V khai mua ma túy của người đàn ông tên C hiện không rõ lai lịch, qua điều tra chưa xác định được người đàn ông này là ai, cơ quan điều tra tách ra để xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đức V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Đặng Đức V 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10-8-2019.
Hình phạt bổ sung: Không đặt ra giải quyết.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 313/KLGĐ-PC09 của Phòng K Công an tỉnh H, mặt sau phong bì có 3 dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong đựng 0,194 gam Metham phetamine gói bằng giấy màu trắng bên ngoài là túi ni lông màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định; Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphong 5, màu trắng bạc, số IMEI 990002815622947, bên trong lắp sim số 0967710758, đã qua sử dụng đựng trong 01 phong bì niêm phong, mặt sau phong bì có 05 dấu giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và 03 chữ ký niêm phong mẫu
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 23-10-2019).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Đức V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố C; - VKSND tỉnh H; - Công an thành phố C; - Chi cục THA dân sự thành phố C; - Sở tư pháp tỉnh H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thu Hương |