vanban.org

Bản án 93/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 13/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Sỹ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Lê Sỹ L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Lê Sỹ L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Sỹ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Sỹ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2019/HS-ST
Ngày 13- 6- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Miễn

Bà Vương Thúy Thìn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Đạo – Cán bộ Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13/6/2019, tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Sỹ L, sinh năm 1982 tại Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 2/12; Nơi ĐKNKTT: Số X hẻm Y/Z/V, đường K , phường K , quận T , Hà Nội; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Con ông Lê Sỹ V và con bà Nguyễn Thị H; có vợ là Lê Thị C (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 03 tiền sự đã hết thời hiệu: Năm 2005, Công an phường K G, quận T X, thành phố Hà Nội bắt đi cai nghiện bắt buộc 4 năm tại cơ sở cai nghiện số 5; Năm 2009, Công an phường Đ, quận H , thành phố Hà Nội bắt đi cai nghiện bắt buộc 4 năm tại cơ sở cai nghiện số 5; Danh chỉ bản số 107 do Công an quận Hai Bà Trưng lập ngày 19/3/2019. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/3/2019, tạm giữ ngày 15/3/2019, tạm giam từ ngày 24/3/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Hà Nội- Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/3/2019, tại khu vực vườn hoa đầu phố T , phường P , quận H, Hà Nội, Tổ công tác Công an phường P, quận H, Hà Nội kiểm tra hành chính đối với Lê Sỹ L phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của L một gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng. L khai đây là Heroin do L mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực vườn hoa P, phường P, quận H với giá 200.000 đồng vào thời gian trước đó cùng ngày mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện bắt giữ. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của L 01 điện thoại di động Nokia màu xanh.

Tại bản kết luận giám định số 1709/KLGĐ-PC09 ngày 24 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,208 gam.

Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKS- HBT ngày 28/5/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Lê Sỹ L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Lê Sỹ L giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo thừa nhận số ma túy mà công an thu giữ qua giám định là Heroin có trọng lượng là 0,208 gam là của bị cáo mua để sử dụng. Bị cáo thành khẩn khai báo và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Sỹ L từ 15 đến 18 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 0,208 gam Heroin; Trả lại cho L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Tại lời nói sau cùng, Lê Sỹ L đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết đinh tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Sỹ L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/3/2019, tại khu vực vườn hoa đầu phố T, phường P, quận H, Hà Nội, Lê Sỹ L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,208 gam ma túy loại Heroin. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội. Ma túy không những là nguyên nhân hủy hoại sức khỏe, suy giảm giống nòi, gây suy thoái đạo đức lối sống, làm thiệt hại nền kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng vì đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình lo lắng cho nhân dân.

Về nhân thân: Trong các năm 2005, 2009 bị cáo đã có 02 tiền sự về việc đưa đi cai nghiện ma túy thể hiện bị cáo đã nhiều lần được các cơ quan có thẩm quyền giáo dục cai nghiện nhưng bị cáo vẫn phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Để trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và làm bài học, răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với loại tội này ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân đang bị nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, L không rõ nhân thân lai lịch, quá trình điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được nên không có căn cứ xử lý, do vậy tại bản án này Toà án không xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,208 gam ma túy loại Heroin, đây là chất độc hại, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh thu giữ của Lê Sỹ L có số imei1 là 357328087760827 do đây là tài sản cá nhân của L nên trả lại cho L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Lê Sỹ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Lê Sỹ L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Lê Sỹ L.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,208 gam ma túy loại Heroin; Trả lại cho L chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh có số imei1 là 357328087760827 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2019).

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lê Sỹ L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ