- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn K và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" năm 2019 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2019/HSST ngày 02-4-2019 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh về mức hình phạt và biện pháp thi hành hình phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2019/HSPT Ngày 23-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hải
Các Thẩm phán:
- Bà Trương Thị Lệ Thu
- Bà Nguyễn Thị Bích Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 57/2019/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo Vũ Văn K và Đặng Ngọc T, do có kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn K và Đặng Ngọc T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HSST ngày 02-4-2019 của Tòa án nhân dân K, tỉnh Hà Tĩnh;
- Bị cáo kháng cáo:
1. Vũ Văn K; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985, tại xã T, huyện Đ, tỉnh T; nơi cư trú hiện nay: Thôn 2, H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Vũ Văn Í, sinh năm 1949 và con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1949; anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư; vợ: Lê Thị T, sinh năm 1988; con: Có 02 đứa, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08-01-2019 cho đến ngày 10-01-2019 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt,
2. Đặng Ngọc T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1992, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú hiện nay: Xóm 10, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên xăng dầu Vũng Áng; con ông Đặng Ngọc H, sinh năm 1959 và con bà Đậu Thị L, sinh năm: 1962; anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 08-01-2019 đến ngày 10-01-2019 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cứ trú, có mặt.
Ngoài ra, còn có bị cáo Phạm Văn Q không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: ông Trần Văn P; địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông Phạm Xuân Năm; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 57 phút, ngày 07- 01-2019, Vũ Văn K gọi điện rủ Đặng Ngọc T; Đặng Ngọc T lại rủ Phạm Văn Q đến lán công nhân của Công ty Đồng T (nơi làm việc của K), ở thôn 2 H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Đặng Ngọc T đi xe mô tô BKS 38k2-3226 (xe mượn của anh Trần Văn P) và Phạm Văn Q đi xe mô tô BKS 38H7-90932 (xe mượn của ông Phạm Xuân N) cùng đến lán. Vũ Văn K, Đặng Ngọc T và Phạm Văn Q đi vào trong lán lấy một bộ Tú lơ khơ (do K đã chuẩn bị từ trước), rồi cùng ngồi lên giường để đánh bạc, dưới hình thức đánh “Liêng”.
Cách thức đánh bạc cụ thể như sau: Một bộ bài Tú lơ khơ được chia cho mỗi người ba con bài, mỗi ván, mỗi người đặt giữa chiếu 50.000 đồng. Kết quả người nào có cả ba con bài có các số hoặc chữ như nhau thì gọi là “Sáp”; có các chữ hoặc số liền kề thì gọi là “Liêng”, cả ba có con bài có chữ như nhau thì gọi là “Ảnh”. Sáp cao nhất là Át, Liêng cao nhất là AKQ, Ảnh cao nhất là K; Sáp thắng Liêng, Liêng thắng Ảnh, nếu không có Sáp, Liêng, Ảnh thì tính điểm của tổng cả ba con bài trên tay, ai cao điểm nhất thì thắng và được lấy toàn bộ số tiền giữa chiếu. Đánh đến 22 h30 phút thì Vũ Văn K, Đặng Ngọc T và Phạm Văn Q bị tổ tuần tra Công an thị xã K bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 1 bộ bài Tú lơ khơ và 4.600.000 đồng tiền mặt, thu giữ trong người Phạm Văn Q 6.700.000 đồng và trong người Đặng Ngọc T 2.100.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền cất giữ trong người dùng để đánh bạc là 13.400.000 đồng.
Tại Bản án số 14/2019/HSST ngày 02-4-2019 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên bố các bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T, Phạm Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s, i Khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn K và Đặng Ngọc T, tuyên xử bị cáo K 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 08-01-2019 đến ngày 10-01-2019. Bị cáo Đặng Ngọc T 7 (Bảy) tháng tù, Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 08-01-2019 đến ngày 10-01-2019.
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s, i Khoản 1 và 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 35, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự, Xử phạt Phạm Văn Q số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Ngoài ra, án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 04-4-2019, các bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T kháng cáo Bản án với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, giảm hình phạt cho Vũ Văn K, giữ nguyên mức hình phạt và cho Đặng Ngọc T được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Các bị cáo kháng cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ khẳng định Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2019/HSST ngày 02-4-2019 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Văn K 09 tháng tù, bị cáo Đặng Ngọc T 07 tháng tù là có căn cứ. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn trực tiếp xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý.
Trong vụ án này, bị cáo Vũ Văn K là người khởi xướng đồng thời là người chuẩn bị công cụ, bị cáo Đặng Ngọc T là người thực hành. Cấp sơ thẩm đã cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Ngọc T cung cấp tình tiết giảm nhẹ: Xác nhận của Công an xã Q về việc bị cáo đã dũng cảm, mưu trí cứu người đuối nước, được chính quyền địa phương và nhân dân hoan nghênh. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện nộp án phí nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, bị cáo Tráng có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo cải tạo tại địa phương thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Vũ Văn K: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo làm công nhân, thu nhập thấp, đang nuôi hai con nhỏ, vợ không có công việc ổn định, bản thân chưa có tiền án, tiền sự nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo hai tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận một phần nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2019/HSST ngày 02-4-2019 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh về mức hình phạt và biện pháp thi hành hình phạt tù.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s, i Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn K - 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 08-01-2019 đến ngày 10-01-2019.
Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s, i Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T - 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đặng Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 BLTTHS 2015, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 23/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Văn K, Đặng Ngọc T không phải chịu án phí HSPT.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TAND, VKS, Công an TX. K; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Phòng PV 27 CA tỉnh Hà Tĩnh; - Chi cục THA T; - Những người TGTT; - UBND xã Q; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Hải |