vanban.org

Bản án 93/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 10/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Văn Đ 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 13/9/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2018/HSST
Ngày: 10/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Văn Đời

+ Bà Dƣơng Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường An Hải Đông, quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2018/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐXX-HS ngày 25/10/2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên: LÊ VĂN Đ

Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: Beo

- Sinh năm: 1987 tại TP Đà Nẵng

- Nơi cư trú: Số 40 N, tổ 25D phường T, quận S, TP Đà Nẵng;

- Trình độ học vấn: 07/12

- Nghề nghiệp: Lao động phổ thông

- Quốc tịch: Việt Nam.

- Dân tộc: Kinh;

-Tôn giáo: Không.

- Tiền án, tiền sự: Không

- Con ông: Lê Văn N (SN 1963) và bà: Võ Thị H (SN 1964)- Cùng trú: Số 40 đường N, tổ 25D phường T, quận S, TP Đà Nẵng. Gia đình bị cáo có 2 chị em, bị cáo là con út.

- Có vợ: Lương Thị Thu S (SN 1994) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2016.

- Bị cáo bị bắt ngày 13/9/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Hòa Sơn, Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời làm chứng: Ông Võ Đ T- Sinh năm: 1968- Địa chỉ: Số 21/12 đường T, tổ 44 phường T, quận S, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/9/2018, Lê Văn Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy đá nên liên lạc với người thanh niên tên Vũ (là bạn ngoài xã hội của Đ không rõ nhân thân lai lịch) mua 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá, Vũ đồng ý và hẹn Đ đến một quán cà phê trên đường Ngô Quyền thuộc quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng (Đ không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) để mua bán. Sau khi mua ma túy đá, Đ bỏ vào trong ví tiền của mình để sử dụng khi có nhu cầu. Đến khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/9/2018, Đ đến quán Karaoke Thao thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà để hát karaoke với bạn. Trong khi đang ngồi ở quầy lễ tân của quán thì bị lực lượng Công an quận Sơn Trà vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đ đang cất giấu trong ví tiền ở trong túi quần phía trước bên phải mà Đ đang mặc, có 01 (một) gói ni long kích thước khoảng (2x2) cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, Đ mua về để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân. Qua xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Văn Đ có kết quả dương tính với ma túy tổng hợp (đá).

Tang vật thu giữ:

- 01 (Một) ví da màu đen;

- 01 (Một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Văn Đ số: 201601054;

- 01 (một) gói ni lông diện (2x2) cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng. (Kí hiệu Đ);

Tại Kết luận giám định số 183/GĐ-MT ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng: Mẫu tinh thể trong bì niêm phong ký hiệu Đ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng mẫu tinh thể Đ: 0,352 gam. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 15/10/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt 13/9/2018.

Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong số 183 ngày 21/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,179 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (Một) ví da màu đen của Lê Văn Đ.

Đề nghị tuyên trả cho Lê Văn Đ 01 (Một) CMND mang tên Lê Văn Đ số 201601054.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Lê Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/9/2018, tại quầy lễ tân quán Karaoke Thao thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng, lực lượng điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Sơn Trà phát hiện bắt quả tang Lê Văn Đ đang có hành vi cất giấu trong ví tiền ở trong túi quần phía trước bên phải mà Đ đang mặc 0,352 gam ma tuý, loại Methamphetamine mà Đ đã mua của đối tượng tên Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 13/9/2018 với số tiền 400.000 đồng tại một quán cà phê (không rõ tên quán) trên đường Ngô Quyền thuộc quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở xác định hành vi của bị cáo Lê Văn Đ đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 15/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện đến cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc mới tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: Xác định số ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành và 01 (Một) ví da màu đen là vật chứng mà bị cáo dùng để cất giấu ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong số 183 ngày 21/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,179 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (Một) ví da màu đen của bị cáo.

- Đối với 01 (Một) CMND mang tên Lê Văn Đ số 201601054, xét thấy đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2018).

Đối với đối tượng tên Vũ đã bán ma tuý cho Lê Văn Đ, do chưa xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Văn Đ, Công an quận Sơn Trà đã tra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tại phiên tòa về tội danh và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quan điểm xử lý vụ án của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Lê Văn Đ 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 13/9/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong số 183 ngày 21/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,179 gam ma túy loại Methamphetamine là trọng lượng còn lại sau khi giám định và 01 (Một) ví da màu đen.

- Trả cho Lê Văn Đ: 01 (Một) CMND mang tên Lê Văn Đ số 201601054.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/10/2018).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ