- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị Thanh M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh : Bị cáo Đoàn Thị Thanh M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN THÁI THỤY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2018/HSST Ngày 16/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Toàn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến, bà Phạm Hồng Thiêm.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Toà án ND huyện Thái Thụy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2018/TLST-HS ngày 05/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2018/QĐXXST-HS ngày 03/10/2018, đối với
Bị cáo: ĐOÀN THỊ THANH M, sinh năm 1985.
Đăng ký hộ khẩu tại: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trú tại: Phường X, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Con ông Đoàn M và bà Nguyễn Thị Kim Y. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2018. (Có mặt tại phiên tòa)
Người làm chứng: Anh Đỗ Xuân H, sinh năm 1971; Trú tại Ngõ xx phố P, thành phố N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
Người chứng kiến: Ông Vũ Xuân N, sinh năm 1962 và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Cùng trú tại thôn L, xã P, tỉnh T, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 2 giờ ngày 16/6/2018, Đoàn Thị Thanh M đang xem bóng đá tại khu vực siêu thị BigC Nam Định thì nhận được điện thoại của một người nói tên là T ở Thái Bình (không biết tên thật, tuổi, địa chỉ, là bạn M mới quen ngoài xã hội) gọi đến hỏi mua 20 viên ma túy kẹo và 3 túi ma túy ke. M trả lời có và nói nếu mang về chỗ T thì hết 11.000.000 đồng. T đồng ý và thống nhất 3 giờ 30 phút M mang ma túy đến gốc thị, xã P, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Sau đó, M đi bộ ra khu vực đường A, thành phố N, tỉnh Nam Định gặp và mua 20 viên ma túy kẹo và 3 túi ma túy ke của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với giá 9.000.000 đồng. M cầm số ma túy mua được, thuê xe taxi do anh Đỗ Xuân H điều khiển đi tới gốc thị cạnh đường xx, thuộc thôn L, xã P, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Lúc này là 3 giờ 30 phút cùng ngày, M mở cửa xuống xe thì bị tổ công tác Công an huyện Thái Thụy đang tuần tra phát hiện, đưa về UBND xã P làm việc. Trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương, ông Vũ Xuân N và chị Nguyễn Thị T, Công an kiểm tra phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải M đang cầm 1 túi nilon trong suốt, một mép có gờ dính màu đỏ bên trong có 20 viên nén hình tròn màu hồng (niêm phong ký hiệu A1) và 3 túi nilon trong suốt, một mép có gờ dính màu xanh bên trong có 3 túi đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt (niêm phong ký hiệu A2). M khai nhận toàn bộ số ma túy là của M mang sang Thái Bình bán kiếm lời. Ngoài ra còn thu giữ của M 1 chiếc điện thoại Nokia vỏ màu đen (M dùng để liên lạc bán ma túy) và 1 chiếc điện thoại iPhone vỏ màu hồng. Kiểm tra người anh H, xe ô tô taxi anh H lái và khám xét khẩn cấp nơi ở của M đều không thu giữ được gì.
Bản kết luận giám định số 252 ngày 16/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 là ma túy loại MDMA, khối lượng 4,0016 gam; Mẫu gửi giám định niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,5013 gam.
Tại phiên tòa, M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSTT ngày 04/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Thanh M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 4 năm 3 tháng đến 4 năm 9 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra còn đề xuất xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.
Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về nuôi dưỡng 2 con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mang 4,5029g ma túy sang Thái Thụy để bán kiếm lời. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng; kết luận giám định số 252/KLGĐ-PC54 ngày 16/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của người làm chứng Đỗ Xuân H, của những người chứng kiến: Vũ Xuân N, Nguyễn Thị T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc bán ma túy cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm phát tán ma tuý trong cộng đồng dân cư, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, gây bức xúc trong nhân dân.
Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Việc đưa vụ án ra xét xử và xử bị cáo mức hình phạt tương xứng là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, để răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
… 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Bị cáo thành khẩn khai nhận nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo mua bán ma túy là để thu tiền lời, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, song do kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản đáng kể nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ma túy thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Chiếc điện thoại di động iPhone của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho M và người nam giới hẹn mua ma túy của M, do M không biết tên thật, địa chỉ cụ thể của họ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý. Anh Đỗ Xuân H lái xe taxi, do không biết M đi bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh H là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; Khoản 1, 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016.
1. Tội danh : Bị cáo Đoàn Thị Thanh M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Đoàn Thị Thanh M 4 (bốn) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, mẫu A1, A2.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 1 điện thoại di động Nokia, vỏ màu đen và sim điện thoại 01277.722.xxx.
- Trả lại bị cáo 1 điện thoại di động iPhone và sim điện thoại 0945.882.007.
Các đồ vật, tài sản trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 04/9/2018.
4/ Về án phí: Bị cáo Đoàn Thị Thanh M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 16/10/2018./. Nơi nhận:
| - Người tham gia tố tụng; - VKSND Thái Thụy; - Trại tạm giam Thái Bình; - Công an Thái Thụy; - Chi cục THADS Thái Thụy; - Tòa án tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu HCTP; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thẩm phán Lưu Toàn Nghĩa |