vanban.org

Bản án 93/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 P bì niêm P số 392/PC54 (01 P bì chứa ma túy cong lại sau giám định; 01 P bì chứa vỏ túi nilon còn lại sau giám định); 01 lọ nhựa hình vuông kích thước 6x6 có nắp màu đỏ bên trong có 123 vỏ gói nilon các loại; Sung vào ngân sách Nhà nước 350.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đức P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2018/HS-ST
Ngày 21-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đức Dũng

Bà Vũ Thị Phương Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Đức P, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đức C và bà Phạm Thị X; có vợ là Trần Thị Lê H và 02 con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Tại Bản án số 111 ngày 23/7/2013 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích); bị bắt ngày 03/7/2018; tạm giữ, tạm giam ngày 04/7/2018; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Đặng Đức P nảy sinh ý định mua ma túy để bán kiếm lời. Ngày 26/6/2018, P đến đường tàu đường C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói ma túy đá, mỗi gói có kích thước 4x6 cm với giá 2.500.000 đồng và người bán ma túy còn cho Phòng 01 lọ nhựa nắp màu đỏ bên trong có nhiều vỏ gói nilon các loại. P mang về nhà vào phòng riền đổ toàn bộ 03 gói ma túy đá vừa mua vào một gói nilon kích thước 5x8 cm, sau đó chia một ít ma túy vào 05 gói nilon (04 gói có kích thước 1,5x1,5 cm và 01 gói có kích thước 1x1 cm), số còn lại vẫn để trong gói 5x8 cm. P dự định bán gói ma túy có kích thước 1,5x1,5 cm với giá 200.000 đồng/gói, gói có kích thước 1x1 cm với giá 150.000 đồng/gói, khi nào bán hết lại lấy ma túy trong gói 5x8 cm chia ra các gói nhỏ để bán, nếu bán hết số ma túy trên dự tính được 3.500.000 đồng và P thu lợi được 1.000.000 đồng. Đến chiều tối ngày 02/7/2018, P đã bán cho Nguyễn Văn V 01 gói ma túy kích thước 1,5x1,5 cm với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/7/2018, Vũ Xuân P tới nhà P chơi, sau đó có Nguyễn Văn V và Vũ Hoàng S đến hỏi mua ma túy. Khi P vừa bán cho V 01 gói ma túy kích thước 1,5x1,5 cm với giá 200.000 đồng và bán cho Sơn 01 gói ma túy có kích thước 1x1 cm với giá 150.000 đồng thì bị Công an vào kiểm tra, Vũ Hoàng S đã ném gói ma túy vừa vừa mua đi nên không thu giữ được; thấy vậy P chạy vào phòng cầm gói ma túy kích thước 5x8 cm ném qua cửa sổ xuống đất nhưng đã bị cơ quan Công an thu giữ ngay sau đó.

Tại bản Kết luận giám định số 392/KLGĐ (Đ6) ngày 09/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận:

Mẫu tinh thể (mẫu số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0576 gam, là loại Methamphetamine.

Mẫu tinh thể (mẫu số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,4880 gam, là loại Methamphetamine.

Mẫu tinh thể (mẫu số 3) gửi giám định là ma túy, là loại Methamphetamine, không đủ điểu kiện xác định khối lượng tinh thể.

Mẫu tinh thể (mẫu số 4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1994 gam, là loại Methamphetamine.

Vật chứng của vụ án: 02 P bì niêm P số 392/PC54 (01 P bì chứa ma túy cong lại sau giám định; 01 P bì chứa vỏ túi nilon còn lại sau giám định); 01 lọ nhựa hình vuông kích thước 6x6 có nắp màu đỏ bên trong có 123 vỏ gói nilon các loại và 350.000 đồng, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 30/10/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đặng Đức P về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đức P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Vể trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 02 P bì niêm P số 392/PC54 (01 P bì chứa ma túy cong lại sau giám định; 01 P bì chứa vỏ túi nilon còn lại sau giám định); 01 lọ nhựa hình vuông kích thước 6x6 có nắp màu đỏ bên trong có 123 vỏ gói nilon các loại.

- Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000 đồng tiền thu lời bất chính từ việc mua bán ma túy vào ngày 02/7/2018 để nộp Ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 350.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đặng Đức P đã 02 lần bán ma túy trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn V vào ngày 03/7/2018 gói ma túy với giá 200.000 đồng, ngày 03/7/2018 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng và bán 01 gói ma túy cho Vũ Hoàng S với giá150.000 đồng tại trước cửa nhà đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng và số ma túy P cất giữ tại nhà cũng dùng để bán kiếm lời. Tổng số ma túy có khối lượng 5,745 gam Methamphetamine nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt "Phạm tội 02 lần trở lên" và “… Methamphetamine ...có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hành vi của Đặng Đức P đã đủ yếu tố cầu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Đặng Đức P về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, góp phần làm suy giảm sức khỏe của cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án số 111 ngày 23/7/2013 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án nhưng nay lại phạm tội thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.

Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo là liệt sỹ, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Qua xác minh bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 Phong bì niêm P số 392/PC54 (01 P bì chứa ma túy cong lại sau giám định; 01 P bì chứa vỏ túi nilon còn lại sau giám định); 01 lọ nhựa hình vuông kích thước 6x6 có nắp màu đỏ bên trong có 123 vỏ gói nilon các loại.

Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000 đồng tiền thu lời bất chính từ việc mua bán ma túy vào ngày 02/7/2018 để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 350.000 đồng.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với gười đàn ông bán ma túy cho P, chưa làm rõ được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn V không đủ khối lượng, về nhân thân V không có tiền án, tiền sự về ma túy nên không xử lý về hình sự, cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính. Đối với Vũ Hoàng S không xác định được khối lượng ma túy đã mua nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý hành chính. Đối với Vũ Xuân P1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Đức P nên không xử lý.

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt Đặng Đức P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 7 năm 2018.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 02 P bì niêm P số 392/PC54 (01 P bì chứa ma túy cong lại sau giám định; 01 P bì chứa vỏ túi nilon còn lại sau giám định); 01 lọ nhựa hình vuông kích thước 6x6 có nắp màu đỏ bên trong có 123 vỏ gói nilon các loại;

+ Sung vào ngân sách Nhà nước 350.000 đồng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

+ Buộc bị cáo phải nộp lại 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách Nhà nước.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự ứng với thời gian chậm thi hành án”.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Đặng Đức P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Đặng Đức P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ