vanban.org

Bản án 93/2018/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/06/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

93/2018/DS-PT
26 - 6 - 2018
V/v Tranh chấp di sản thừa kế và yêu
hủy văn bản phân chia
thừa kế.

NHÂN DANH

–

Ông Lê Tự

Ông

Ông Nguyễn Xuân Điền

Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều -

.

: Ông Quách Đức Dũng -

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2017/TLPT-DS ngày 27/12/2017 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế và

hủy văn bản phân chia

thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2017/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2018/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H; Địa chỉ: San Jose CA 95133, USA.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn Tr; Địa chỉ: 02A Đường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (theo Giấy ủy quyền ngày 23/5/2011).

Bị đơn: Ông Phạm Văn H1 (chết năm 2012);

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn gồm các ông (bà): Phan Thị Minh N; Phạm Duy H2 và Phạm Duy T; Cùng địa chỉ: Thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn T1; Địa chỉ: 111 đường L, quận X, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Phạm Văn T2; Địa chỉ: Paris, Pháp.

3. Bà Phạm Thị Thanh Tr1; Địa chỉ: des Chasses 94800 Villejuif.

4. Bà Phạm Thị Thanh H4, Địa chỉ: L’Hay –les-Roses, Pháp.

5. Bà Phạm Thị Thanh N1; Địa chỉ: Villemisson-sur-Orge, Pháp.

6. Bà Phạm Thị B (còn gọi là Ngô Thị Minh Tr6); Địa chỉ: 6/6 đường số N, khu M, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

7. Bà Phạm Thị L; Địa chỉ: khóm B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

8. Văn phòng công chứng K; Địa chỉ: Số 10 đường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

9. Ông Lâm Thành H3 và bà Huỳnh Thị Bạch L1; Cùng địa chỉ: 106 đường S, phường V1, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

10. Ông Lê Kh; Địa chỉ: 37/7 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

11. Bà Hoàng Thị Minh P; Địa chỉ: Số 37 Đường P, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

12. Ông Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6; Cùng địa chỉ: 21 đường Đ, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

13. Ông Phạm Ngọc T3 và bà Nguyễn Thị C; Cùng địa chỉ: 19 đường TVD, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

14. Bà Đàm Thị Lan H5; Địa chỉ: Tổ 9, phường V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

15. Ông Đặng Hữu N2 và bà Trần Phan Thanh N3; Cùng địa chỉ: 28 đường TVD, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

16. Ông Nguyễn Văn H7 và bà Phan Thị Ngọc A; Cùng địa chỉ: 4/4 đường k, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

17. Ông Phan Minh T4; Địa chỉ: 33 đường S, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

18. Ông Võ Anh T5; Địa chỉ: 593 Đường LHP, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

19. Ông Thái Minh T7 và bà Võ Thị Thu H8; Cùng địa chỉ: Thôn PN, V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

20. Bà Nguyễn Thị Hồng N4; Địa chỉ: 24/16 đường H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

21. Ông Trần Công Đ; Địa chỉ: 63B đường số 2, kho cảng VN, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

22. Ông Võ Quảng H9; Địa chỉ: 25 đường H1, phường P1, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

o: Nguyên đơn ông Phạm Văn H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện

nguyên đơn trình bày:

Cụ Phạm Văn Tr3 (chết năm 1936) và cụ Phạm Thị C1 (chết năm 1952). Lúc sinh thời cụ Tr3 và cụ C1 sinh được 03 người con chung:

1.Ông Pham Nhạc (chết năm 1994), có vợ là bà Đồng Thị L2 (đã chết). Ông N5 và bà L2 có 08 người con chung: ông Phạm Văn T1 (còn sống); bà Phạm Thị Ba Tr4 (chết năm 1998 không chồng con); Ông Phạm Văn T2 (còn sống); Ông Phạm Văn T8 (chết năm 1997); Bà Phạm Thị Thanh Tr1 (chết năm 2013); bà Phạm Thị Thanh H4 (còn sống); bà Phạm Thị Thanh N1 (còn sống); bà Phạm Thị Nam H10 (chết năm 2013) không có chồng con).

2. Ông Phạm Văn Tr5 (chết năm 1950), có vợ là Nguyễn Thị K1 (chết năm 1948). Ông Tr5 và bà K1 có 04 người con gồm các ông, bà: Phạm Văn H; Phạm Văn L3 (mất tích tại Vũng Tàu năm 1975, có vợ là Phạm Thị L3 đã chết trước năm 1975); Bà Phạm Thị B (còn gọi là bà Ngô Thị Minh Tr6); Bà Phạm Thị L (còn sống).

3. Bà Phạm Thị M (chết năm 1950), chồng và các con đều chết trước năm 1975.

Di sản của cụ Tr3 và cụ C1 chết đi để lại gồm ngôi nhà ngói trên thửa đất có diện tích 5.000m2, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành ph N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay, vợ con của ông Phạm Văn H1 (là cháu nội của ông Phạm N5) đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra còn có 7 sào đất ruộng Hợp tác xã đang quản lý không tranh chấp trong vụ án này.

Cụ Trí và cụ C1 chết không để lại di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên, lúc còn sống, cụ Tr3 và cụ C1 có nói miệng là chia cho ông Phạm Văn Tr5 (là cha của nguyên đơn) 01 căn nhà dưới và diện tích đất 2.500m2, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Trong thời gian phục vụ quân ngũ, ông vẫn thường xuyên thăm viếng nhà đất nói trên, đến năm 1991 ông H xuất cảnh sang Hoa Kỳ định cư. Lợi dụng cơ hội này, gia đình ông Phạm N5 đã quản lý toàn bộ nhà đất di sản do cụ Tr3 và cụ C1 để lại.

Năm 1994, ông Phạm N5 đã lập di chúc giao toàn bộ nhà đất do cụ Tr3 và cụ C1 tạo lập cho cháu nội là ông Phạm Văn H1. Đây là việc làm trái pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi h p pháp của những người thừa kế của ông Phạm Văn Tr5.

Do vậy, ông Phạm Văn H yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật đối với khối di sản là 02 ngôi nhà ngói, giáp vách nhau, trên thửa đất có diện tích 5.000m2, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, do cụ Phạm Văn Tr3 và cụ Phạm Thị C1 để lại.

* Tại đơn yêu cầu bổ sung đề ngày 31/10/2014, ông Lê Văn Tr là đai diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày.

Sau khi ông Phạm Văn H1 qua đời năm 2012, bà Phan Thị Minh N cùng 02 con là Phạm Duy H2, Phạm Duy T đã lập “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế”. Văn bản thỏa thuận được Văn phòng công chứng K công chứng ngày 10/5/2013. Khối tài sản mà vợ con ông H1 phân chia là toàn bộ tài sản mà ông Phạm Văn H đang tranh chấp thừa kế với ông Phạm Văn H1. Do vậy, ông Phạm Văn H yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2, ông Phạm Duy T lập, vì văn bản này trái pháp luật.

* Tại các bản tự khai đề ngày 17/6/2009 và ngày 25/7/2011, đơn đề nghị ngày 31/10/2009, bị đơn ông Ph m Văn Hòa trình bày:

Ông là con của ông Phạm Văn T1, là cháu nội của ông Phạm N5 (chết năm 1994) và bà Đồng Thị L2 (chết năm 2000). Ông H1 gọi cụ Phạm Văn Tr3 và cụ Phạm Thị C1 là ông bà cố.

Lô đất có diện tích 5.000m2 (n m trong diện tích 8.000m2 và 01 căn nhà cấp 4 có diện tích 200m2, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, hiện gia đình ông đang quản lý có nguồn gốc của ông Phạm N5 (chết năm 1994) và bà Đồng Thị L2 (chết năm 2000) để lại.

Trước khi chết ông N5 và bà L2 đã lập di chúc cho ông được thừa hưởng diện tích khoảng 8.000m2, trên đất có nhà. Bản di chúc đã được Phòng công chứng Nhà nước số X tỉnh Khánh Hòa công chứng ngày 30/6/1994. Tuy nhiên, để thực hiện ý nguyện của ông Phạm N5 trước khi qua đời nên khoảng thời gian năm 2002 ông đã tự nguyện cắt khoảng 3.000m2 đất chia cho nhánh của ông Phạm Văn H (con ông Phạm Văn Tr5). Do ông H là người nước ngoài nên ông H đã ủy quyền cho bà Phạm Thị B (Ngô Thị Minh Tr6) em của ông H quản lý. Trong năm 2003, được sự đồng ý của ông H, bà Tr6 đã cắt ½ lô đất 3.000m2 nói trên cho bà Phạm Thị Thanh Tr1 (là con gái của ông H) và bà Tr1 cũng được cấp sổ đỏ trong năm này.

Như vậy, nhà đất mà ông Phạm Văn H đang tranh chấp là của ông Phạm N5 (ông nội của ông Phạm Văn H1), ông H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là di sản của cụ Phạm Văn Tr3 và cụ Phạm Thị C1. Vì tình nghĩa họ tộc, ông H1 đã chia cho nhánh của ông H lô đất có diện tích 3.000m2, nay ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H về việc chia thừa kế đối với lô đất 5.000m2 và 01 căn nhà cấp 4 có diện tích 200m2, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Quá trình Tòa án

giải quyết vụ án, năm 2012 bị đơn ông Phạm Văn H1 chết. Vợ của ông H1 là bà Phan Thị Minh N cùng 02 con là ông Phạm Duy H2, Phạm Duy T được xác định là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H1. Tại các bản tự khai đề ngày 25 và 26/7/2011, bà N, ông H2, ông T trình bày thống nhất với lời khai của bị đơn ông Phạm Văn H1

à Phạm Thị Nam H10 đã chết năm 2013. Sau khi cha tôi mất, gia đình tôi có bán đất cho một số người gồm: Võ Quảng H9, Phan Minh T4, Lâm Thành H3, tiệm vàng KN, Tr7, D, H11, H12, N4, Tr2, đã giao đất cho họ và nhận đủ tiền.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, ông Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6 trình bày.

Ngày 19 tháng 01 năm 2012, ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N có bán cho vợ chồng ông một lô đất có diện tích 210m2 thuộc thửa số 91, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 425.000.000 đồng. Ngày 14/4/2012, vợ chồng ông đưa thêm cho bà N và con trai bà là ông Phạm Duy H2 75.000.000 đồng. Ngày 01/4/2013, vợ chồng ông đổi lô đất khác với diện tích 240m2 và đưa thêm 220.000.000 đồng. Ngày 01/7/2013, vợ chồng ông mua thêm 30,6m2 với giá 90.000.000 đồng (lúc này ông Phạm Văn H1 đã chết).

Như vậy, vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng 270m2 với số tiền 810.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng đất vợ chồng ông đã bỏ ra thêm 90.000.000 đồng để xây móng và san lấp mặt bằng và đang quản lý lô đất. Vợ chồng bà N và các con trai bà cam kết có trách nhiệm làm thủ tục tách sổ cho vợ chồng ông, nhưng hứa hẹn mãi không làm nên giữa vợ chồng ông với bà N, ông H2, ông T thỏa thuận lại theo đó bà N, ông H2 và ông T trả lại cho vợ chồng ông 700.000.000 đồng và vợ chồng ông sẽ trả lại lô đất, Văn bản thỏa thuận đã được công chứng tại Văn phòng công chứng H, nhưng đến nay mẹ con bà N vẫn chưa thanh toán tiền. Nay vợ chồng ông khởi kiện yêu cầu Tòa buộc bà N, ông H2 và ông T phải trả lại cho vợ chồng ông số tiền 700.000.000 đồng.

* Những người có quyền l , nghĩa v liên quan khác:

1. Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 17/7/2009, bà Ngô Th Minh Tr6 (Pham Th B) trình bày:

Phần con chung của cụ Tr3 + cụ C1; con chung của ông N5 + bà L2, con chung của ông Phạm Văn Tr5 và bà Nguyễn Thị K1, bà Tr6 khai thống nhất với trình bày của ông Phạm Văn H. Bà là em của ông Phạm Văn H.

Tại Biên bản thế v ngày 23/01/1959, bà tên là Phạm Thị B là con của ông Phạm Văn Tr5 và bà Nguyễn Thị K1. Sau khi ông Tr5 mất năm 1950, bà phải xa gia đình nên lấy họ tên theo người nhận nuôi. Hiện nay, bà sử dụng tên Ngô Thị Minh Tr6, theo giấy chứng minh số 220059688 được cấp ngày 23/7/1993.

Bà không có chứng cứ gì chứng minh, nhưng bà xác định lô đất có diện tích 8.000m2 tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa trên lô đất có 01 căn nhà từ đường là di sản do cụ Phạm Văn Tr3 và cụ Phạm Thị C1 chết đi để lại. Năm 1966, ông Phạm N5 đã đập toàn bộ căn nhà nói trên để xây dựng lại. Do đó, phần nhà từ đường chỉ còn lại 01 cái giếng, 01 sân phơi lúa có diện tích khoảng 70m2.

Bà Tr6 cũng th a nhận vào năm 2003, ông Phạm Văn H1 có chia cho ông Phạm Văn H lô đất 3.000m2, bên cạnh nhà từ đường cũ. Bà là người nhận ủy quyền của ông H đã làm thủ tục và đã được cấp sổ đỏ đ với 3.000m2 đất nói trên. Cũng trong năm 2003, được sự đồng ý của ông H, bà Tr6 đã cắt 1.500m2 đất cho bà Phạm Thị Thanh Tr1 (là con gái của ông H). Năm 2007, theo sự chỉ đạo của ông H, bà Tr6 đã cắt 300m2 từ lô đất này cho ông Phạm Ngọc L4 (là con trai của ông Phạm Văn L3). Bà Tr1 và ông L4 đã được nhà nước cấp sổ đỏ đ i với phần diện tích đất được chia nhưng hiện nay các lô đất này đang bị bỏ trống, không có ai quản lý.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H, bà Tr6 không có ý kiến cũng như không có yêu cầu gì.

2. Ngày 19/6/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã lập hồ sơ ủy thác tư pháp để yêu cầu ông Ph m Văn T2 cung cấp lời khai cũng như tài liêu có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, ngày 06/3/2013, cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa Pháp đã có văn bản trả lời với nội dung không thể tiến hành thu thập chứng cứ đối với ông Phạm Văn T2, vì ông T2 đã già yếu, không đủ sức khỏe để đến Tòa.

3.Tại văn bản ủy thác tư pháp số 12/00060 ngày 29/01/2013 của Tòa Đại thẩm Creteil nước ng hòa Pháp, bà Ph m Thị Thanh H4 trình bày:

Cha mẹ của bà là ông Phạm N5 (chết năm 1994) và bà Đồng Thị L2 (chết năm 2000). Ông N5 có để lại di chúc vào năm 1994, sau đó bà L2 hoàn thành vào năm 1995. Nội dung bản di chúc của ông N5 và bà L2 chỉ định cho cháu nội là Phạm Văn H1 thừa hưởng khối tài sản gồm:

- 01 căn nhà gạch trên lô đất 5.000m2 tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- 01 nghĩa trang với diện tích 600m2, trên đó có 02 ngôi mộ của cụ Phạm Văn Tr3 và cụ Phạm Thị C1.

Đồng thời, ông H1 phải quản lý di sản để thờ cúng tổ tiên và phụng dưỡng bà Phạm Thị Nam H10 (bị tâm thần) đến cuối đời.

Riêng mảnh ruộng có diện tích 07 sào (tương đương 2.520m2) ngay trước mảnh đất có ngôi nhà đã chia sẻ với hợp tác xã V3, nếu được trả lại thì sẽ giao cho ông Phạm Văn H1.

Ông N5 và bà L2 có 08 người con chung gồm:

- Ông Phạm Văn T1 (còn sống).

- Bà Phạm Thị Ba Tr4 (chết năm 1998), có chồng là ông Đặng Văn Phong và 08 người con gồm: Đặng Thị Thanh C (đã chết năm 1975); Đặng Văn D; Đặng Văn H12; Đặng Văn C2; Đặng Thị Thanh T6; Đặng Thị Minh A1; Đặng Thị Minh H8 và Đặng Văn H11 (hiện đang cư trú tại Washington DC, nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể).

- Ông Phạm Văn T2 (còn sống).

- Bà Phạm Thị Nam H10 (còn sống).

- Ông Phạm Văn T8 (chết năm 1997, không vợ, không con).

- Bà Phạm Thị Thanh Tr1 (còn sống).

- Bà Phạm Thị Thanh N1 (còn sống).

- Bà Phạm Thị Thanh H4 (còn sống).

Bà H4 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H vì nhánh của ông H đã nhận 3.000m2 đất ở phía bên trái lối vào nhà của ông Phạm Văn H1. Còn phần căn nhà từ đường đã được ông N5 và bà L2 xây dựng lại từ năm 1966.

4. Tại văn bản Ủy thác tư pháp số 1473 ngày 30/01/2013 của Tòa Đại thẩm Creteil, nước Cộng hòa Pháp, bà Phạm Thị Thanh Tr1 trình bày thống nhất với lời khai của bà Phạm Thị Thanh H4.

5. Tại văn b n ủy thác tư pháp số 13/00002 ngày 19/3/2013 của Tòa Đại thẩm Évry. nước Cộng hòa Pháp, bà Phạm Thị Thanh N1 trình bày thống nhất với lời khai của bà Phạm Thị Thanh H4.

6. Tại văn bản số 98/VPCC đề ngày 19/01/2015 của Văn phòng công chứng K, ông Nguyễn Văn Thắng là đ i diện hợp pháp trình bày:

Văn phòng công chứng K công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế ngày 10/5/2013 dựa trên những tài liệu sau:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615-ngày 14/8/1999 do ủy ban nhân dân thành phố N cấp cho ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N.

- Giấy chứng tử cùa ông Phạm Văn H1.

- Biên bản xác minh kết quả niêm yết tại y ban nhân dân x V3 ngày 09/5/2013.

Hơn nữa, tại thời điểm chứng thực, Văn phòng công chứng K không nhận được bất kỳ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp hoặc văn bản ngăn chặn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, Văn phòng công chứng K công chứng “Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế” giữa bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và Phạm Duy T là hoàn toàn đúng pháp luật. Do người yêu cầu hủy văn bản thuận phân nêu trên không yêu cầu gì đối với Văn phòng công chứng K nên đề nghị Tòa xét xử vắng mặt Văn phòng.

7. Tại các bản tự khai ngày 18/3/2016, ông Lâm Thành H3 và bà Huỳnh Th Bạch L1 trình bày:

Ngày 14 tháng 6 năm 2010, chúng tôi có mua một lô đất có diện tích 400m2 thuộc thửa 134,91 tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 900.000.000 đồng. Khi mua ông H1 có làm cho chúng tôi một bản hợp đồng thỏa thuận, một văn bản cam kết, một bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một bản chứng thực của xã V3. Nay chúng tôi đã xây dựng nhà và sinh sống tại đây.

8. Tai bản tự khai ngày 03/6/2016, bà Hoàng Th Minh P trình bày:

Trước năm 2009, tôi có mua một lô đất của bà Phan Thị Minh N có diện tích 241,2m2 thuộc thửa số 91, tơ bản đồ số 8, tổ 9, PN Nam, V3, thành phố N với giá tiền 500.000.000 đồng, nhưng hai bên chỉ lập giấy tay, hiện giấy tờ mua bán tay đã thất lạc. Sau khi mua đất, tôi đã xây dựng nhà và sống ở đây. Đến ngày 22/5/2014, tôi và bà Phan Thị Minh N lập văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để hợp thức hóa cho lô đất tôi đã mua.

9. Tại các bản t khai ngày 18/3/2016 và ngày 28/6/2016, ông Phan Ngọc T3 và bà Nguyễn Thị C trình bày:

Ngày 21 tháng 7 năm 2004, chúng tôi có mua một lô đất có diện tích 100m2 thuộc thửa 91, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngàỵ 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 15.000.000 đồng. Nhưng trên thực tế, vợ chồng tôi đưa 80.000.000 đồng, nhận đất và đã xây dựng nhà, sinh sống tại đây.

10. Tại bản t khai ngày 22/3/2016, bà Đàm Thị Lan H5 trình bày:

Ngày 02 tháng 6 năm 2013, tôi có mua một lô đất có diện tích 200m2 thuộc thửa 134,91 tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 650.000.000đồng. Năm 2014, tôi đã xây dựng nhà với chi phí 1.300.000.000 đồng và sinh sống tại đây.

11. Tại các bản tự khai ngày 18/3/2016, ông Đặng Hữu N2 và bà Trần Phan Thanh N3 trình bày:

Ngày 12/01/2012, chúng tôi có mua một lô đất có diện tích 580m2 thuộc thửa 1192, tờ bản đồ số 7 và một lô đất diện tích 450m2 thuộc thửa 91, tờ bản đồ số 8 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 3.500.000.000 đồng. Vợ chồng ông H1 và bà N đã nhận đủ tiền và hứa sẽ có trách nhiệm sang sổ cho vợ chồng tôi, nhưng đến nay vẫn chưa có sổ. Chúng tôi đã xây dựng nhà và sinh sống tại đây.

12. Tại bản tự khai ngày 18/3/2016, ông Nguyễn Văn H7 trình bày: Ngày 14 tháng 6 năm 2013, vợ chồng tôi có mua một lô đất có diện tích 541,5m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 1.350.000.000 đồng. Hiện chúng tôi đã xây dựng nhà và sinh sống tại đây.

13. Tại bản tự khai ngày 18/3/2016, ông Phan Minh T4 trình bày: Ngày 07 tháng 6 năm 2012, tôi có mua một lô đất có diện tích 120m2 thuộc thửa 134,91 tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 375.000.000 đồng. Hiện tôi đã xây dựng nhà với chi phí 400.000.000 đồng và sinh sống tại đây.

14. Tại bản tự khai ngày 18/3/2016, ông Võ Anh T5 trình bày:

Ngày 02/5/2013, tôi có mua một lô đất có diện tích 162m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ số 8, Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 405.000.000 đồng. Hiện tôi đã xây dựng nhà với chi phí 400.000.000 đồng và sinh sống tại đây.

15. Tại các bàn tự khai ngày 21/3/2016, ông Thái Minh T7 v bà V Th Thu H8 trình bày:

Ngày 29 tháng 4 năm 2014, vợ chồng tôi có mua một lô đất có diện tích 412,5m2 thuộc thửa 91 tờ bán đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 950.000.000 đồng. Hiện chúng tôi đã xây dựng nhà với chi phí 1.000.500.000 đồng và sinh sống tại đây.

16. Tại bản tự khai ngày 18/3/2016, bà Nguyễn Thị Hồng N4 trình bày:

Khoảng năm 2009, tôi có mua một lô đất của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N tại PN, V3, nhưng chỉ thỏa thuận miệng và viết giấy tay. Đến ngày 22 tháng 5 năm 2014, tôi và bà N ký văn bản thỏa thuận và cam kết tại Văn phòng công chứng K. Lô đất của tôi mua có diện tích 240,6m2 với giá tiền 500.000.000 đồng. Hiện tôi chưa xây nhà nhưng tôi yêu cầu Tòa công nhận quyền sử dụng đất của tôi.

17.Tại bản t khai ngày 05/4/2016, ông Trần Công Đ trình bày:

Ngày 31 tháng 7 năm 2013, bà N và ông T có chuyển nhượng cho tôi lô đất có diện tích 2000m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 đứng tên ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 1.300.000.000 đồng, thực tế, hiện nay lô đất đo lại chỉ còn 1300m2. Tôi đang quản lý sử dụng lô đất này.

18. Tại bản tự khai ngày 07/4/2016, ông Võ Quảng H9 trình bày:

Ngày 19/ 11/2010, tôi có mua một lô đất có diện tích 320m2 thuộc thửa số 91 tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT do UBND thành phố N cấp ngày 14/8/1999 của ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với giá tiền 500.000.000 đồng. Thời điểm đó, tôi nhờ một người em tên Dương Hiền đứng tên trong hợp đồng mua bán. Sau khi thanh toán đủ số tiền, ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N đã đồng ý điều chỉnh diện tích đất đã bán cho tôi, cụ thể là 400m2 và tôi đã nhận lô đất này. Tôi đã tiến hành san lấp mặt bằng, nâng cao nền và để đất trống nên yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2017/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 609, 612, 624, 625 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Tuyên xử:

1/ Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H về việc “Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy Văn bản phân chia di sản thừa kế” đối với căn nhà có diện tích 200m2 nằm trên lô đất diện tích 5.000m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT cấp ngày 14/8/1999 đứng tên ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N với bị đơn ông Phạm Văn H1 (chết năm 2012) những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và ông Phạm Duy T.

2/ Ch p nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6. Buộc bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và ông Phạm Duy T phải trả lại cho vợ chồng Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6 số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng chẵn).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/3/2017, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

không

không n

k

nguyên đơn.

guyên đơn

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án

kháng cáo.

u

trong

3

1

3

1

5

L2

1 Nguyên đơn không

không

m không

nguyên đơn

án phí dân sự sơ th m

không

ật

phân chia

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Cụ Tr3 (

năm 1936) và cụ C1 (

năm 1952) để lại ngôi nhà ngói tọa lạc trên thửa đất có diện tích 8.000m2, tại thôn PN, xã V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ngoài ra còn mảnh ruộng diện tích 07 sào (tương đương 2.520m2) H p tác xã V3 đang quản lý

đương sự không tranh chấp

H p tác xã đang quản lý.

ụ Tr3, cụ C1

cụ Tr3, cụ C1

không đ lại di chúc

ông Phạm N5

Giấy phép cất nhà số 483/HC/VX do Quận trưởng quận VX cấp ngày 10/02/1966

có nội dung cho phép ông Phạm N5 được

một căn nhà trệt mái lợp ngói tọa lạc

;

5

cụ Tr3, cụ C1 không

cụ Tr3, cụ C1 không

ông Phạm N5

ông Phạm N5 pháp luật

ông Phạm N5

91 tờ bản đồ số 8

ản di chúc do ông Phạm N5 và bà Đồng Thị L2 lập năm 1994, chỉ định ông Phạm Văn H1 được sở hữu sở nhà gạch lợp ngói, xây trên lô đất vườn ăn quả diện tích 5.000m2 tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N và một nghĩa trang diện tích 600m2 [3] Ủy ban nhân dân thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00615 QSDĐ/VN-NT ngày 14/8/1999

ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Minh N

pháp luật

(Điều 2 Luậ đai năm 1993). Theo G 9.490m2

thửa 91 tờ bản đồ số 8

5.470m2

2 200m2

). [4]

không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H v việc “chia di sản thừa kế” là căn nhà có diện tích 200m2 nằm trên lô đất diện tích 5.000m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N [5]

B

Tr6) ngày 17/7/2009

rong diện tích đất 8000m2, năm 2003 ông Phạm Văn H1 đã c t bớt cho nhánh con ông

Tr5 3.000m2, bà Minh Tr6 là người được ông H ủy quy n

đủ 3.000m2.

y, ông Phạm Văn H

cụ Tr3, cụ C1. [6] V

ăn bản thỏa thu n phân chia di sản thừa kế: Do không có

xác định tài sản nhà, tranh chấp là di sản thừa kế của cụ Tr3 và cụ C1 để lại, T

không

yêu cầu hủy Văn bản thỏa thu n phân chia di sản thừa kế lập ngày 05/04/2013, giữa bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và ông Phạm Duy T [7]

không

kháng cáo

H. [8]

n phí

,

không

nguyên đơn

không

.

ng Phạm Văn H

không

7 Điều

2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. [9] Văn H [10]

H

Vì các l trên;

1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn c Điều 609, 612, 630 Bộ luật Dân sự năm 2015;

H;

.

1. Bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn H

: “Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế” đối với căn nhà có diện tích 200m2 nằm trên lô đất diện tích 5.000m2 thuộc thửa 91 tờ bản đồ s 8, tọa lạc tại thôn PN, xã V3, thành phố N.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6:

Buộc bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và ông Phạm Duy T phải trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Đình Tr2 và bà Nguyễn Thị Xuân H6 số tiền 700.000.000 đồng.

3.

- Ông Phạm Văn H p

300 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 1.000.000đ t biên lai

,

000đ.

- Bà Phan Thị Minh N, ông Phạm Duy H2 và ông Phạm Duy T ph nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 32.000.000đ. Cụ th mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 10.670.000đ.

- Hoàn lại cho ông Nguyễn nh Tr2 và bà Ngu

Thị Xuân H6 s tạm ứng án phí dân sự sơ th m 16.000.000đ nộp t biên lai số AA/2012/0003819 ngày 6/4/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.

Ông Phạm Văn H

biên lai số

.

4.

:

H

c

5. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì hằng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

6.

.

Cỡ chữ