- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn M phạm tội Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam của ông Đào Văn T đối với bị cáo Đào Văn M. Quyết định hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Đào Văn M có hiệu lự…
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2017/HSPT Ngày 23/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quốc Huy.
Bà Vũ Thị Kim Anh.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở TAND tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2017/TLPT-HS ngày 13/10/2017 đối với bị cáo Đào Văn M. Do có kháng cáo của bị hại Đào Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo không kháng cáo: Đào Văn M, sinh năm 1957, nơi sinh và đăng ký HKTT: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 6/10; Quốc tich: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Đào Văn T và bà Đỗ Thị L; có vợ: Vũ Thị Đ và có 03 con đều đã trưởng thành. Tiền án, tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người bị hại có kháng cáo: Ông Đào Văn T, sinh năm 1964; trú tại: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn M, sinh năm 1957, ở thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên có mâu thuẫn từ trước về vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình chị Phạm Thị T, sinh năm 1975 có chồng là Đào Văn H ở cạnh nhà của M. Khi hai bên cãi nhau thì ông Đào Văn T, sinh năm 1964 ở cùng thôn là người đứng ra can ngăn và bênh vực chị T (chị T là em dâu của ông T) vì vậy M đã bực tức đối với ông T. Khoảng 01 giờ sáng ngày 19/4/2017 M tỉnh dậy nghĩ lại việc bực tức với ông T nên đã nảy sinh ý định phá hoại tài sản ở vườn cây nhà ông T. M một mình đi xuống bếp nhà mình lấy 01 chiếc cưa rồi đi bộ từ nhà mình qua cầu tre bắc ngang qua mương nước để đi sang vườn bưởi diễn đã trồng từ năm 2014 của nhà ông T. Khi đã vào trong vườn bưởi của ông T, M ngồi xuống tay trái nắm giữ phần thân cây bưởi, còn tay phải cầm cưa để cưa đứt phần thân cây bưởi, khi cưa gần đứt phần gốc cây, M dùng tay đẩy rời cây ra khỏi gốc, cứ như vậy M cưa đứt và đẩy đổ rời khỏi gốc 33 cây bưởi cao 1,5m, đường kính thân 6cm trên 05 luống bưởi của nhà ông T. Sau đó M mang cưa ra mương nước để rửa sạch đất bẩn bám ở cưa rồi đi theo lối vào lúc ban đầu về nhà cất cưa vào bếp rồi lên giường ngủ tiếp. Đến chiều ngày 19/4/2017 ông T đi ra vườn nhà mình thì thấy 33 cây bưởi bị cưa rời khỏi gốc, ông T đã làm đơn trình báo cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K.
Đến ngày 20/5/2017, Đào Văn M đã tự giác đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cùng ngày M đã nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc cưa dài 45cm, rộng 4cm, tay cầm bằng gỗ dài 13cm là chiếc cưa M đã dùng vào việc phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/HĐGĐ-KL ngày 15/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K đã kết luận: 33 cây bưởi diễn, mỗi cây bưởi cao 1,5m đường kính mỗi thân cây là 6cm đã bị cưa đổ có tổng giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 10.890.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện K đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn M phạm tội Hủy hoại tài sản.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn M 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Đào Văn M đã nộp để bồi thường thiệt hại cho người bị hại ông Đào Văn T với số tiền là 10.890.000 đồng (mười triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn quyết định về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 18/9/2017 người bị hại ông Đào Văn T kháng cáo, nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng mức hình phạt, xử bị cáo Đào Văn M tù giam và buộc bị cáo Đào Văn M phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông tổng số tiền là 53.869.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Đào Văn M khai báo thành khẩn, tỏ rõ thái độ ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho người bị hại 20.000.000 đồng.
Người bị hại Đào Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo tăng mức bồi thường dân sự và rút phần kháng cáo tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đào Văn M về tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và ý kiến của bị cáo, của người bị hại, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 2 Điều 238; điểm a, b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận việc rút phần kháng cáo tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo của người bị hại, đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại phần kháng cáo tăng mức bồi thường; ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thêm 20.000.000 đồng của bị cáo đối với người bị hại, sửa phần trách nhiệm bồi thường dân sự của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Do bực tức với ông Đào Văn T nên khoảng 01 giờ sáng ngày 19/4/2017, Đào Văn M đã một mình dùng cưa cưa đứt toàn bộ 33 cây bưởi diễn có đường kính 6cm, chiều cao 1,5m tại vườn cây của gia đình ông Đào Văn T ở thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên, gây thiệt hại tài sản tổng giá trị 10.890.000 đồng. Bởi hành vi trên, Đào Văn M bị Toà án nhân dân huyện K xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam và tăng mức bồi thường của ông Đào Văn T: Hội đồng xét xử, xét thấy:
Đối với kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, người bị hại đã tự nguyện rút phần kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo. Xét thấy việc người bị hại rút phần kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và không cho bị cáo hưởng án treo là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại của ông Đào Văn T, Hội đồng xét xử, xét thấy ông Đào Văn T cho rằng việc bị cáo Đào Văn M cưa đứt 33 cây bưởi đã gây thiệt hại cho gia đình ông tổng số tiền là 53.869.000 đồng, nên bị cáo bồi thường số tiền 10.890.000 đồng là chưa phù hợp. Theo biên bản kết luận định giá tài sản số 14/HĐĐG ngày 15/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản thì 33 cây bưởi diễn, mỗi cây trị giá 330.000 đồng, tổng cộng 10.890.000 đồng; bị cáo M đã nộp toàn bộ số tiền 10.890.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho ông Đào Văn T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Ông Đào Văn T không khiếu nại về giá trị tài sản bị thiệt hại đã được định giá và cũng không đưa ra được căn cứ chứng minh cho yêu cầu buộc bị cáo bồi thường số tiền 53.869.000 đồng, nên kháng cáo của người bị hại không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đào Văn M nộp một Biên lai thu tiền với số tiền là 20.000.000 đồng và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo có ý kiến khẳng định khoản tiền 20.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 20/11/2017 là để bị cáo bồi thường tiếp cho người bị hại Đào Văn T. Hội đồng xét xử, xét thấy việc bị cáo Đào Văn M bồi thường tiếp cho ông Đào Văn T số tiền 20.000.000 đồng là sự tự nguyện của bị cáo, phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa bản án sơ thẩm.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên toà có căn cứ chấp nhận.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên ông Đào Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 238; điểm a, b khoản 2 Điều 248; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, xử tù giam của ông Đào Văn T đối với bị cáo Đào Văn M. Quyết định hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Đào Văn M có hiệu lực pháp luật.
2. Không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng bồi thường thiệt hại của ông Đào Văn T. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Đào Văn M, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên như sau:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Đào Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đào Văn M cho UBND xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đào Văn M đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại ông Đào Văn T, sinh năm 1964; trú tại: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên với tổng số tiền là 30.890.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 003918 ngày 01/9/2017 và Biên lai thu tiền số 003896 ngày 20/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Hưng Yên.
3. Về án phí: Ông Đào Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên; - CA, VKSND huyện K; - TAND huyện K; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Biểu |