vanban.org

Bản án 926/2023/HS — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sùng A V và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, về phần hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sùng A V và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 926/2023/HS-PT
Ngày: 12/12/2023

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Thúy Bình;

Bà Phan Thị Vân Hương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh N, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1153/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Sùng A V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Sùng A V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 10 năm 1985 tại M, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Sùng A T và bà Thào Thị D; có vợ là Giàng Thị C và 03 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh 2012); tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 02-6-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H – Luật sư, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H – Thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 01-6-2023, Sùng A V đã mua 02 bánh Heroine với giá 70.000.000 đồng/1 bánh của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ tại khu vực bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, nhưng do chưa có tiền trả, nên V dẫn người bán H1 đến gần nhà mình và chỉ nhà để họ đến lấy tiền sau khi V bán được Heroine; sau đó V cất giấu ở tảng đá sau nhà không nói cho ai biết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày có một người phụ nữ gọi điện thoại cho V, giới thiệu là người dân tộc Mông ở P, N và hỏi V có ma túy Heroine bán không thì V trả lời có 02 bánh Heroine; người đó đồng ý mua với giá 100.000.000 đồng/1bánh và thỏa thuận hẹn sáng ngày 02-6-2023 sẽ giao dịch mua bán ma túy tại đỉnh đèo K, xã C, huyện M.

Sáng ngày 02-6-2023, V lấy chiếc túi vải đen có đựng 02 bánh Heroine đeo lên người, điều khiển xe máy BKS 21B1- 83582 mượn của em dâu là bà Vàng Thị V1 chở con trai là Sùng A P đi cùng, nhưng V không nói cho P biết đi đâu, làm gì. Khi đến khu vực đỉnh đèo K, thuộc xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái, V bảo P đứng ngoài đường đợi, còn mình đem theo ma túy đi bán như đã hẹn trước đó thì thì bị Công an tỉnh Y phát hiện bắt quả tang; những người mua ma túy đã bỏ chạy thoát. Vật chứng thu giữ của V khi bị bắt gồm 02 bánh hình hộp chữ nhật bên ngoài được gói bằng nhiều lớp ni lon có màu sắc khác nhau, có kích thước mỗi bánh là 2cm x 10cm x 15cm để trong một chiếc túi màu đen; 01 xe mô tô HONDA loại Wave màu đen xám có BKS 21B1- 83582; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 420.000 đồng; thu giữ của Sùng A P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xám, màn hình cảm ứng.

Tại bản Kết luận giám định số 307/KL- KTHS ngày 11-6-2023, Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Sùng A V trong bánh thứ nhất có khối lượng là 339,1 gam trích 2,1 gam gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Sùng A V trong bánh thứ hai có khối lượng là 323,5 gam trích 2,5 gam gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Tổng cộng 662,6 gam (Sáu trăm sáu hai phẩy sáu gam) Heroine, đã lấy 4,6 gam làm mẫu giám định, còn lại 658gam (Sáu trăm năm tám gam) Heroine.

Quá trình điều tra Sùng A P khai nhận: Ngày 02-6-2023 P có đi cùng bố đẻ là Sùng A V đi sang tỉnh Yên Bái với mục đích để mua quần áo. Trong khi di chuyển, P ngồi phía sau xe máy, không cầm hộ Vạng đồ vật tài sản gì. V không nói cho P biết mục đích đến tỉnh Yên Bái để bán ma túy, túi vải chứa 02 bánh Heroine được V đeo trước ngực suốt quãng đường đi, không nhờ P cầm, xách hộ hay nói gì cho P biết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Sùng A V tử hình.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/9/2023 bị cáo Sùng A V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Ngày 25/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có quyết định kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, trình bày và cung cấp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình của Giàng Thị C (vợ bị cáo) có xác nhận của chính quyền địa phương; tiếp tục xin được giảm hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; là người dân tộc ít người, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; nhận thức về pháp luật còn hạn chế; khối lượng ma túy không quá lớn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo và giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo, kết luận: Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, theo quy định tại tiểu mục 3.3 Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐ-TP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì với khối lượng ma túy mà bị cáo mua bán là không quá lớn và bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên có cơ sở để vận dụng nghị quyết này và không cần thiết phải phạt tử hình đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và xem xét chuyển từ hình phạt tử hình sang hình phạt tù chung thân là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có ý kiến khiếu nại.

Ngày 12/9/2023, bị cáo Sùng A V có đơn kháng cáo; ngày 25/9/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có quyết định kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái là trong thời hạn luật định, nên xem xét cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, những lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Chiều ngày 01-6-2023, Sùng A V đã gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 02 bánh Heroine có tổng khối lượng là 662,6 gam với giá 140.000.000 đồng, nhưng chưa trả tiền. Ngày 02-6-2023, Sùng A V đem 02 bánh Heroine nêu trên đến bản S, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái để bán cho một người phụ nữ không quen biết với giá 100.000.000 đồng/1 bánh thì thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Bị cáo Sùng A V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, với khối lượng chất ma túy mua bán trái phép là 662,6 gam Heroine; phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Sùng A V đã cố ý mua bán trái phép 02 bánh ma túy có tổng khối lượng 662,6 gam Heroin, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục có thái độ thành khẩn và đã thực sự ăn năn hối cải, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ chồng không có việc làm và có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình của Giàng Thị C (vợ bị cáo) có xác nhận của chính quyền địa phương.

Do đó, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy không cần thiết phải loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chuyển sang hình phạt khác để cải tạo bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

Từ những nhận định trên xét thấy kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái là có cơ sở để chấp nhận, nên cần xem xét chuyển từ hình phạt tử hình sang hình phạt khác nhẹ hơn như quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sùng A V và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, về phần hình phạt.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Sùng A V, tù Chung thân, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02-6-2023.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ