vanban.org

Bản án 92

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q: 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (28/10/2017). Tịch thu tiêu huỷ 0,27 gam heroine đã trích 0,09 gam gửi giám định không hoàn lại. 0,19 gam Methamphetamine gửi toàn bộ giám định không hoàn lại. (Vật chứng đã đƣợc Cơ quan Cảnh sát điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quàng Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản số: 92/2018/HSST
Ngày 12/03/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bạc Thị Kiên

2. Ông Lò Văn Ơn

- Thư ký phiên toà: Ông Lƣờng Văn Đoản - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Thiều Thị Thùy Dƣơng chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 12/03/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2018/HSST ngày 24/01/2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 92/2018/QĐXX-HS ngày 26/02/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên. Quàng Văn Q. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13/7/1999. Tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 9, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 7/12. Con ông: Quàng Văn Ƣ, sinh năm 1975, và con bà: Lƣờng Thị B, sinh năm 1978. Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Bị cáo chƣa có vợ, con: Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, chƣa bị Tòa án xét xử.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2017. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 17 giờ ngày 28/10/2017, Quàng Văn Q đi bộ từ nhà ở đội 9, xã T, huyện Đ ra ngoài đội 9 với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi cách nhà khoảng hơn 500m, Q gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không rõ lai lịch. Qua trao đổi,Q đã mua đƣợc của ngƣời đàn ông đó một ống nhựa màu trắng hai đầu đƣợc hơ lửa hàn kín bên trong có heroine và 01 gói bên ngoài gói bằng lớp nilon màu trắng bên trong có 02 viên Methamphetamine với giá 140.000đ. Sau khi mua đƣợc heroine và Methamphetamine, Q cầm trong tay phải và đứng chơi ở đƣờng, còn ngƣời đàn ông dân tộc Thái đi đâu Q không biết. Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q đang đứng ở ngoài đƣờng đi giữa khu vực đội 9, xã Thanh Hƣng, huyện Điện Biên thì bị Công an huyện Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của Q 01 ống nhựa màu trắng bên trong có heroine. và 02 viên Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lƣợng ngày 28/10/2017 đã xác định: Toàn bộ số cục, bột màu trắng nghi heroine thu giữ của Quàng Văn Q có khối lƣợng là 0,27 gam.Tổng khối lƣợng 02 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp là 0,19 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 156/GĐ-PC54 ngày 16/12/2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn Q là chất ma túy loại heroine.

Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Quàng Văn Q gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSĐB ngày 23/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Quàng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015, sủa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, xử phạt bị cáo Quàng Văn Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp đƣợc chấp nhận.

.Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quàng Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lƣợng; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng nhƣ cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

.Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Quàng Văn Q là đối tƣợng nghiện chất ma túy bị cáo đã đi bộ từ nhà đội 9 xã Thanh Hƣng, huyện Điện Biên ra ngoài đội 9, xã Thanh Hƣng, huyện Điện Biên mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo gặp một ngƣời đàn ông dân tộc thái khoảng 30 tuổi không biết tên tại đƣờng đi đội 9, xã T cách nhà khoảng 500m mua đƣợc 01 gói heroine, và 02 viên Methamphetamine với giá 140.000đ chƣa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trên ngƣời 0,27 gam heroine. và 0,19 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và đƣợc thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã đƣợc cân xác định khối lƣợng là 0,27 gam heroine. và 0,19 gam Methamphetaminegam, kết luận giám định là heroine và Methamphetamine.

Bị cáo tàng trữ 0,27 gam heroine và 0,19 gam Methamphetamine trên ngƣời mục đích để sử dụng của bị cáo. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lƣợng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng khối lƣợng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,46 gam đƣợc quy định tại cùng Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Vì vậy hành vi tàng trữ hai chất ma túy có tổng khối lƣợng 0,46 gam của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, áp dụng theo hƣớng có lợi cho bị cáo. HĐXX căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 để xem xét áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

C¸o tr¹ng cña VKSND huyện Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.

. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy: Sinh ra và lớn lên tại huyện Điện Biên, bản thân học hết lớp 7/12 thì bỏ học năm 2015 nghiện ma túy. Bị cáo chƣa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015. HĐXX xét thấy bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện để bị cáo cải sửa lỗi lầm của mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.

Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi bị cáo đã gặp tại đội 9 xã Thanh Hƣng theo bị cáo khai đã bán heroine và Methamphetamine cho bị cáo, do không biết tên địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ đƣợc. HĐXX không xem xét.

. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 0,27 gam heroine đã trích 0,09 gam gửi giám định không hoàn lại và 0,19 gam Methamphetamine gửi giám định không hoàn lại.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q: 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (28/10/2017).

3. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 0,27 gam heroine đã trích 0,09 gam gửi giám định không hoàn lại. 0,19 gam Methamphetamine gửi toàn bộ giám định không hoàn lại. (Vật chứng đã đƣợc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 29/01/2018).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Quàng Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/3/2018).

Cỡ chữ