vanban.org

Bản án 92/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho anh Lô Văn Q được ly hôn với chị Lê Thị H.

Về con chung: giao con chung Lô Ngọc Khánh A, sinh ngày 09/02/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Lô Văn Q do chị Lê Thị H không yêu cầu. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho anh Lô Văn Q được ly hôn với chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 9 - 2025 “V/v Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Thanh, Ông Cao Thanh Sâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân khu Vực 9, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân khu Vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu Vực 9, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 19/2025/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lô Văn Q, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Bản N C, xã B Ch, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Công Thiết – Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản N C, xã B Ch, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 02/7/2025, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lô Văn Q trình bày:

- Về tình cảm: anh Lô Văn Q và bị đơn Lê Thị H kết hôn với nhau vào ngày 05 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã B Ch, huyện Con Cuông (nay xã B Ch), tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thiếu sự tin tưởng chia sẻ lẫn nhau. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà hiện nay, vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với bị đơn chị Lê Thị H.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 người con chung tên là Lô Ngọc Khánh A, sinh ngày 09/02/2020. Nếu ly hôn có nguyện vọng được giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh vì hiện nay con đang ở với chị H.

- Về tài sản chung: anh Lô Văn Q và Lê Thị H thỏa thuận tự chia, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: vợ chồng anh không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn chị Lê Thị H vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân khu Vực 9 phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lô Văn Q. Buộc anh Lô Văn Q và chị Lê Thị H chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật; về con: giao con chung Lô Ngọc Khánh A cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Lô Văn Q; Về tài sản chung: anh Lô Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: anh Lô Văn Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Lô Văn Q trình bày: Anh Lô Văn Q và bị đơn Lê Thị H kết hôn với nhau vào ngày 05 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã B Ch, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nay, xã B Ch, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thiếu sự tin tưởng chia sẻ lẫn nhau. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà hiện nay, vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho anh Lô Văn Q và chị Lê Thị H Ly hôn và giao con chung Lô Ngọc Khánh A cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại Bản N C, xã B Ch, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân khu vực 9 thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực.

Bị đơn chị Lê Thị H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã B Ch, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: xét thấy anh Lô Văn Q và Lê Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã B Ch, huyện Con Cuông (nay là xã B Ch), tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa anh Q và chị H là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh Q, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thiếu sự tin tưởng chia sẻ lẫn nhau. Tại phiên tòa chị H vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng anh Q và chị H thường xuyên xẩy ra mâu thuân không thể hàn gắn được, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, anh Q và chị H đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.

Xét thấy, giữa anh Q và chị H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho anh Q được ly hôn với chị H.

Về con chung: trong quá trình chung sống anh Q và chị H có 01 người con chung tên là Lô Ngọc Khánh A sinh ngày 09/02/2020. Quá trình giải quyết vụ án anh Q có nguyện vọng được giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành.

Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Nguyện vọng của anh Q là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con, tuy trong quá trình giải quyết vụ án, chị H vắng mặt nhưng từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu Khánh An vẫn do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ. Vì vậy để hài hòa giữa quyền của người cha và người mẹ cũng như để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cần chấp nhận giao con chung là Lô Ngọc Khánh A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lô Văn Q do chị Lê Thị H không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh Lô Văn Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho anh Lô Văn Q được ly hôn với chị Lê Thị H.

- Về con chung: giao con chung Lô Ngọc Khánh A, sinh ngày 09/02/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Lô Văn Q do chị Lê Thị H không yêu cầu.

Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Q lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Q.

Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Lô Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phòng thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000811 ngày 21 tháng 7 năm 2025.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND Khu vực 9;

- Phòng THADS khu vực 9;

- UBND xã B Ch;

- Lưu Hồ sơ, VP;

Phan Hồng Lợi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND Khu vực 9;

- Phòng THADS khu vực 9;

- UBND xã B Ch;

- Lưu Hồ sơ, VP;

Phan Hồng Lợi

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Nghệ An;

- VKSND Khu vực 9

- Thi Hành án DS tỉnh Nghệ An

- UBND xã B Ch;

- Lưu Hồ sơ, VP.

Phan Hồng Lợi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi

Cỡ chữ