vanban.org

Bản án 92/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT về việc yêu cầu bà Trần Thị Bạch T trả nợ.

Buộc bà Trần Thị Bạch T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT số tiền còn nợ tính đến ngày 21/4/2025 là 171.430.556 đồng, trong đó, nợ gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 78.305.536 đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà Trần Thị Bạch T có nghĩa vụ tiếp t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT về việc yêu cầu bà Trần Thị Bạch T trả nợ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/DS-ST
Ngày: 21/4 /2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Thành Trung

2. Bà Nguyễn Thị Như Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 273/2024/TLST-DS ngày 15/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 10/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-DS ngày 31/3/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT; địa chỉ trụ sở: 266 – 268 đường KN, phường TS, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Trường T, sinh năm 1994 là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1309/2024/UQ-TT.XLN ngày 19/09/2024) (vắng mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị Bạch T, sinh năm 1982; địa chỉ: 203 Lô A1, Chung cư X đường LQ, Phường X, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khở i kiê ̣n được nộp vào ngày 19/9/2024 của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Trường T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/09/2020, bà Trần Thị Bạch T có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với Ngân hàng TMCP Sài Gòn TT. Căn cứ vào thu nhập của bà T, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 80.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/08/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/08/2024 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 139.876.516 đồng. Trong đó, vốn gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 46.751.496 đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án Quận 11 xem xét, buộc bà Trần Thị Bạch T thanh toán số tiền đã vay tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 139.876.516 đồng, trong đó, vốn gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 46.751.496 đồng. Bà T có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký kết.

Ngày 21/4/2025 Ngân hàng có bản tự khai yêu cầu bà Trần Thị Bạch T thanh toán số tiền đã vay tạm tính đến ngày 21/4/2025 là 171.430.556 đồng, trong đó, dư nợ gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 78.305.536 đồng. Yêu cầu bà T phải thanh toán lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký kết.

* Bị đơn bà Trần Thị Bạch T trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải và dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên thẩm phán đã vi phạm thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý và thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Trần Thị Bạch T thanh toán số tiền đã vay cho nguyên đơn tính đến ngày 21/4/2025 là 171.430.556 đồng, trong đó, dư nợ gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 78.305.536 đồng, bà Trần Thị Bạch T phải thanh toán lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân Quâ ̣n 11 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Bạch T trả số tiền còn nợ, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Theo Kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn bà Trần Thị Bạch T hiện không cư trú tại số 203 Lô A1, Chung cư X đường LQ, Phường X, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển về địa chỉ 84/7 TVQ, Phường X, Quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, theo Kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường 10, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn bà Trần Thị Bạch T hiện không cư trú tại số 84/7 TVQ, Phường X, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện không rõ nơi cư trú của bà T. Do đó, căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định địa chỉ tại Quận 11 là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Do vậy vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Bạch T vắng mặt lần 2 tại phiên tòa dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

3.1 Đối với yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 93.125.020 đồng:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng ngày 30/9/2020 giữa S và bà Trần Thị Bạch T có chữ ký và ghi tên Trần Thị Bạch T, các bảng chi tiết số tiền khách hàng sử dụng, số tiền đã trả và bảng chi tiết tiền lãi vay quá hạn, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định bà T kích hoạt thẻ tín dụng và sử dụng số tiền 1.229.134.950 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ bà T đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.183.049.613 đồng và còn nợ nguyên đơn số tiền 93.125.020 đồng, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo hợp đồng là vi phạm quy định tại Điều 24 của Bộ Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng, nguyên đơn đã yêu cầu chấm dứt hợp đồng và yêu cầu thanh toán nợ trước hạn. Vì vậy, xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 93.125.020 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

3.2 Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi quá hạn tính đến ngày 21/4/2025 là 78.305.536 đồng.

Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật’’ và căn cứ vào Điểm c Khoản 4 Điều 13 và Điều 20 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thì:“Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đến ngày 23/08/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Điều 24 của Bộ Điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T thanh toán số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 21/4/2025 với số tiền 78.305.536 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.

Như vậy, căn cứ vào những nhận định trên phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở buộc bà Trần Thị Bạch T phải thanh toán cho S số tiền còn nợ tính đến ngày 21/4/2025 là 171.430.556 đồng, trong đó, dư nợ gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 78.305.536 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số nợ gốc tính từ ngày 22/4/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng có hiệu lực ngày 29/11/2019 giữa S với bà Trần Thị Bạch T.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Bạch T phải chi ̣u án phi trên số́ tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 40, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điểm c Khoản 4 Điều 13 và Điều 20 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT về việc yêu cầu bà Trần Thị Bạch T trả nợ.

2. Buộc bà Trần Thị Bạch T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT số tiền còn nợ tính đến ngày 21/4/2025 là 171.430.556 đồng, trong đó, nợ gốc là 93.125.020 đồng, lãi quá hạn là 78.305.536 đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Trần Thị Bạch T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc còn thiếu tính từ ngày 22/4/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn được thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT với bà Trần Thị Bạch T.

3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Bạch T phải chịu án phí là 8.571.528 đồng nộp tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn TT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.496.913 đồng (Ba triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm mười ba nghìn) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043125 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bi ̣ đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:

Cỡ chữ