vanban.org

Bản án 92/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bà Kim Thị Thùy L phải chịu 5.210.000 đồng (năm triệu hai trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001973 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TCHĐ vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/DS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2025
V/v: “T/C HĐ vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Giới;

Ông Phan Công Điện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025, về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị P, sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- B đơn: Kim Thị Thùy L

Địa chỉ: ấp F, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị P trình bày:

Vào ngày 07 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn có cho bị đơn là bà Kim Thị Thùy L vay 10 chỉ vàng 24k, mục đích vay để bị đơn mua đất của người khác, thời hạn vay là 01 tháng. Khi hỏi vay, bị đơn trực tiếp điện thoại hỏi nguyên đơn, sau đó chồng của nguyên đơn là ông Phạm Văn C giao vàng. Từ lúc vay đến nay, bị đơn chưa trả cho nguyên đơn khoản nào.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn là bà Kim Thị Thùy L trả cho nguyên đơn 10 chỉ vàng 24k.

- Bị đơn là bà Kim Thị Thùy L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là bà Kim Thị Thùy L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại biên bản hòa giải ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Tổ hòa giải ấp F, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, bị đơn thừa nhận “Có mượn số vàng là 01 cây vàng 24k của bà P, mượn qua điện thoại, chồng của bà P đem vàng giao cho tôi”. Lời thừa nhận này của bị đơn là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn, đủ căn cứ chứng minh việc bị đơn có vay của nguyên đơn 10 chỉ vàng. Tuy nhiên, xét loại vàng thông dụng tại địa phương không có loại vàng 24k, mà là loại vàng 23k nên cần xác định loại vàng các đương sự giao dịch là vàng 23k.

Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không có mặt để đưa ra ý kiến phản đối hay cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét số vàng mà nguyên đơn cho bị đơn vay là tài sản chung của nguyên đơn và chồng của nguyên đơn là ông Phạm Văn C, đồng thời ông C là người trực tiếp đưa vàng cho bị đơn vay. Tuy nhiên, ông C đã ủy quyền cho nguyên đơn được quyền khởi kiện và nhận toàn bộ số tiền hoặc vàng khi bị đơn trả; văn bản ủy quyền này được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang chứng thực ngày 25 tháng 3 năm 2025. Do đó, khi xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cần buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trực tiếp với nguyên đơn, trường hợp có phát sinh tranh chấp tài sản chung giữa nguyên đơn và ông Phạm Văn C sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đòi bị đơn trả 10 chỉ vàng 24k là có căn cứ. Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục [3.1], Hội đồng xét xử điều chỉnh lại từ loại vàng 24k thành loại vàng 23k.

Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí có giá ngạch theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng xét xử căn cứ giá vàng 23k tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 10.420.000 đồng/01 chỉ để tính án phí cho bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 91, 92, 144, 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là bà Kim Thị Thùy L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là bà Lê Thị P số vàng là 10 (mười) chỉ vàng 23k.

2. Về án phí: Bà Kim Thị Thùy L phải chịu 5.210.000 đồng (năm triệu hai trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001973 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ