- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph đối với ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th.
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2025/DS-ST Ngày: 18/6/2025 V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ánh Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Dân An
2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 526/2024/TLST-DS, ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1, Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Hà Ph, sinh năm: 1979; Trú tại: Số 10, hẻm 103, đường Nguyễn Văn L, ấp Năm Trại, xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà Ph: Bà Trần Thị H, sinh năm 1988. Trú tại: ấp Giồng Tr, xã Bình M, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).
2, Bị đơn: Ông Võ Đông Tr, sinh năm: 1980. Trú tại: Số 767, đường Nguyễn Văn L, ấp Năm Tr, xã Trường Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
3, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Kim Th, sinh năm 1983. Trú tại: Số 767, đường Nguyễn Văn L, ấp Năm Trại, xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tr, bà Th:
Ông Lê Phước Y, sinh năm 1995. Trú tại: số 208, đường Lý Thường K, khu phố 4, phường Long H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bà Phạm Thị Như Th, sinh năm 2000. Trú tại: ấp An Đ, xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh trình bày:
Ngày 01/5/2019, bà Ph, ông T cho ông Tr, bà Th vay số tiền 100.000.000 đồng, giấy nợ không ghi lãi suất, thỏa thuận miệng 3%/tháng, hẹn 01 tháng trả là ngày 01/6/2019 trả hết.
Ngày 17/5/2019, bà Ph, ông T cho ông Tr, bà Th vay số tiền 100.000.000 đồng, giấy nợ không ghi lãi suất, thỏa thuận miệng 3%/tháng, hẹn 02 tháng trả là ngày 17/7/2019 trả hết.
Tuy nhiên đúng hẹn, ông Tr, bà Th không trả được tiền vốn đã vay nên đến ngày 06/9/2020, ông Tr, bà Th yêu cầu bà Ph tham gia chơi hụi để giảm tiền nợ vay khi hốt hụi, vợ chồng ông Tr, bà Th đồng ý đóng hụi hàng tháng. Bà Ph tham gia chơi dây hụi 5.000.000 Đồng, hốt lần 22, ngày 11/6/2022 được 120.100.000 đồng, còn 04 lần hụi chết là 20.000.000 đồng. Ông Tr không đóng hụi chết đến nay. Bà Ph đã đóng hụi chết xong. Bà Ph, ông T xác nhận đã nhận tiềm vốn là 120.100.000 đồng, không yêu cầu ông Tr, bà Th trả tiền hụi chết.
Ông Tr đóng hụi hàng tháng cho bà Ph, bà Ph đi đóng cho chủ hụi tên Đàm Thị Thanh Th, tuy nhiên bà Ph bà Th tham gia chơi hụi không có thỏa thuận 03 bên với bà Th, mà chính bà Ph và ông Tr, bà Th tự thống nhất, không có nói cho bà Th biết, nên bà Th không xác định được nợ giữa bà Ph và ông Tr.
Bà Th, ông Tr đã trả tiền được 120.100.000 đồng là tiền đóng hụi, bà Ph, ông T xác định bà Th, ông Tr còn nợ tiền vốn 79.900.000 đồng ngày 11/6/2022.
Nay bà Ph, ông T yêu cầu vợ chồng ông Tr bà Th trả số tiền vốn vay còn nợ 79.900.000 đồng, tiền lãi theo quy định, tính tiền lãi đối với tiền vốn vay 200.000.000 đồng đến ngày 11/6/2022.
*Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Th trình bày:
Ông Tr, bà Th thống nhất lời trình bày về ngày vay tiền, quá trình trả tiền vốn vay bằng phương pháp đóng tiền hụi.
Ông Tr, bà Th đồng ý trả tiền vốn vay còn nợ 79.900.000 đồng tính từ ngày 11/6/2022 và tiền lãi vay 0,83%/tháng đối với số tiền 79.900.000 đồng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Hòa Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS và Nghị quyết 326 của UBNTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nhân dân đề nghị hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Ph đối với ông Tr, bà Th. Buộc ông Tr, bà Th phải trả tiền vốn vay còn nợ là 79.900.000 đồng và tiền lãi theo quy định.
Xác định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm của đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án:
Về tiền vay: Vợ chồng bà Ph, ông T có quan hệ quen biết với vợ chồng ông Tr, bà Th và cho ông bà vay các khoảng tiền như sau:
Ngày 01/5/2019, bà Ph, ông T cho ông Tr, bà Th vay số tiền 100.000.000 đồng, giấy nợ không ghi lãi suất, thỏa thuận miệng 3%/tháng, hẹn 01 tháng trả là ngày 01/6/2019 trả hết.
Ngày 17/5/2019, bà Ph, ông T cho ông Tr, bà Th vay số tiền 100.000.000 đồng, giấy nợ không ghi lãi suất, thỏa thuận miệng 3%/tháng, hẹn 02 tháng trả là ngày 17/7/2019 trả hết.
Vợ chồng ông Tr, bà Th do không có tiền trả theo thỏa thuận nên ông Tr, bà Th yêu cầu bà Ph ông T tham gia chơi hụi để ông bà trả tiền dần hàng tháng. Các bên thống nhất bà Ph tham gia chơi dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, hụi có 26 phần, bà Ph đã hốt lần 22, vào ngày 11/6/2022 số tiền là 120.100.000 đồng, còn nợ 04 lần hụi chết là 20.000.000 đồng, nhưng ông Tr không đóng hụi chết, bà Ph đã tự đóng tiền hụi chết không yêu cầu ông Tr phải tiếp tục đóng hụi.
Bà Ph ông T yêu cầu ông Tr, bà Th trả cho ông bà tiền vốn còn nợ là 79.900.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Vợ chồng ông Tr, bà Th đồng ý trả tiền vốn còn nợ 79.900.000 đồng.
Về tiền lãi vay:
Các bên có mâu thuẫn trong việc tính lãi, ông Tr, bà Th đã đưa ra nhiều cách thỏa thuận thanh toán tiền vốn vay, nhưng nhiều lần không thực hiện đúng được thỏa thuận của mình; thỏa thuận mức lãi suất là 3%/tháng, đây là khoản lãi suất vượt quá quy định nên căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi suất được tính là 1,67%/tháng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, ông Tr, bà Th thừa nhận thỏa thuận trả lãi 1%/tháng, nên tính có lợi cho bị đơn là 01%/tháng.
Ngày 01/5/2019 vay 100.000.000 đồng, tính đến ngày 11/6/2022 là 36 tháng 10 ngày, tiền lãi là 36.333.000 đồng. Ngày 17/5/2019 vay 100.000.000 đồng, tính đến ngày 11/6/2022 là 36 tháng 24 ngày, tiền lãi là 36.800.000 đồng.
Tính đến ngày 11/6/2022 ông Tr, bà Th còn nợ 79.900.000đồng, tính đến ngày 18/6/2025 là 36 tháng 07 ngày, tiền lãi là 28.950.000 đồng.
Tổng cộng ông Tr, bà Th còn nợ ông T, bà Ph số tiền là 181.983.000 đồng. (Trong đó tiền vốn là 79.900.000đồng, tiền lãi là 102.083.000đồng).
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph đối với ông Võ Đông Triều, bà Huỳnh Thị Kim Th. Buộc ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph số tiền còn nợ là 181.983.000 (Một trăm, tám mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn) đồng (Trong đó tiền vốn là 79.900.000đồng, tiền lãi là 102.083.000đồng).
Về án phí:
Ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph không phải chịu án phí.
Ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th phải chịu án phí theo quy định.
Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph đối với ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th.
Buộc ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph số tiền còn nợ là 181.983.000 (Một trăm, tám mươi mốt triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn) đồng (Trong đó tiền vốn là 79.900.000đồng, tiền lãi là 102.083.000đồng).
Kể từ ngày 19/6/2025, nếu ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th không thi hành số tiền nêu trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả cho Ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5000.000 (Năm triệu) đồng theo biên lai thu số 0011785, ngày 20/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
Hoàn trả cho Ông Nguyễn Ngọc T, bà Lê Thị Hà Ph số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.639.000 (Hai triệu, sáu trăm, ba mươi chín nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011785, ngày 10/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
Ông Võ Đông Tr, bà Huỳnh Thị Kim Th phải chịu số tiền là 9.099.150 (Chín triệu, không trăm, chín mươi chín nghìn, một trăm năm mươi) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TX Hòa Thành; - Chi cục THADS TX Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Ánh Nhung |