vanban.org

Bản án 92/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 11/01/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H + Lò Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HSST
Ngày: 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lư ng Ti n Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Vinh

Ông Phạm Ngọc Thiệp

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên

Ngày 25/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T, sinh năm: 1970 và bà: Lò Thị P, sinh năm: 1970; Bị cáo có vợ: Lò Thị C, sinh năm: 1990 và 02 con lớn 17 tuổi nhỏ 15 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với th i hạn là 24 tháng (Đã h t th i hạn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); Bị cáo bị bắt, tạm gi , tạm giam t ngày 11/01/2024 cho đ n nay, có mặt

2. Lò Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T, sinh năm: 1976 và bà: Quàng Thị Y, sinh năm: 1979; Bị cáo có vợ: Quàng Thị H, sinh năm: 1996 và 02 con lớn 9 tuổi nhỏ 5 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm gi , tạm giam t ngày 11/01/2024 cho đ n nay, có mặt

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị C; Sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 gi 30 phút, ngày 11/01/2024 tổ công tác Công an huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu 9, thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Lò Văn H và Lò Văn P có hành vi tàng tr trái phép chất ma túy. Vật chứng thu gi gồm:

- Một gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (H, Phong khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp).

- Một chi c xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 26M1-174.51, số khung: 5C6J0FY, số máy: 5C6J124058, xe đã qua sử dụng cũ.

Ngày 11/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã ti n hành bóc mở niêm phong cân tịnh số chất bột cục màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu gi của Lò Văn H và Lò Văn P. Cân tịnh số chất bột cục màu trắng khối lượng 0,81gam tr ch rút toàn bộ 0,81gam (ký hiệu P1) gửi giám định chất và loại ma túy Cân tịnh 01 viên nén màu hồng khối lượng 0,11 gam tr ch rút toàn bộ 0,11gam (ký hiệu P2) gửi giám định chất và loại ma túy.

Tại K t luận giám định số: 329/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, k t luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,81gam Mẫu gửi giám định ký hiệu P2 là ma túy loại Methamphetamine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu gi : 0,81gam loại Heroine và 0,11gam loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng h t trong quá trình giám định

Áp dụng Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Ch nh phủ quy định về tổng khối lượng hoặc thể t ch chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự xác định được: Tổng khối lượng ma túy là 0,92 gam chất ma túy.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, Lò Văn H, Lò Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 16 gi 00 phút, ngày 11/01/2024 Lò Văn H điều khiển xe mô tô đi chơi thì gặp Lò Văn P ở bản L, xã T, huyện Thuận Châu Khi gặp nhau, H rủ Phong góp tiền mua ma túy về sử dụng Phong đồng ý mỗi ngư i bỏ ra 500 000 đồng. Phong cầm số tiền 1 000 000 đồng, H điều khiển xe chở Phong vào bản Huông, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La H và Phong gặp và hỏi mua được của một nam thanh niên dân tộc Thái

(H, Phong không quen biết và địa chỉ) được một gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng là Heroine và 01 viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp với giá 1.000 000 đồng Sau khi mua được ma túy thì Phong cầm gói ma túy v a mua được ở tay phải, còn H điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng Khi đi đ n tiểu khu 9, thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu gi gói ma túy mà Phong cất giấu Tổ công tác đã đưa H, Phong về trụ sở UBND thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt ngư i có hành vi phạm tội quả tang Sau đó Lò Văn H, Lò Văn P cùng vật chứng đã được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKS-TC ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Lò Văn H, Lò Văn P về tội Tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Lò Văn H, Lò Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Tàng tr trái phép chất ma túy là đúng ngư i, đúng tội

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu gi quyền công tố tại phiên toà trình bày l i luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Lò Văn H, Lò Văn P phạm tội Tàng tr trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn H t 26 đ n 30 tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 11/01/2024.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P t 24 đ n 28 tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 11/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu

- Tuyên trả lại cho chị Lò Thị C: Một chi c xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 26M1-174.51, số khung: 5C6J0FY, số máy: 5C6J124058, xe đã qua sử dụng cũ.

Án ph : Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P.

Ý ki n của các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P: Đều nhất tr như l i luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong l i nói sau cùng của các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P th a nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho các bị cáo, xin miễn hình phạt bổ sung và xin miễn án ph .

Ý ki n của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án chị Lò Thị C khai nhận chi c xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 26M1-174.51 là tài sản của gia đình chị. Chị không bi t việc bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, đây là phương tiện duy nhất của gia đình để đưa đón con đi học hàng ngày, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho chị

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án không có ý ki n khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, ngư i ti n hành tố tụng

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P nhận thấy: Ngày 11/01/2024 tại tiểu khu 9, thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, Lò Văn H, Lò Văn P đã có hành vi tàng tr trái phép 0,81gam loại Heroine và 0,11gam loại Methamphetamine Tổng khối lượng ma túy thu gi : 0,92 gam nhằm mục đ ch để sử dụng cho bản thân các bị cáo thì bị phát hiện, bắt quả tang

Tại phiên tòa các bị cáo gi nguyên l i khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quy t định truy tố của Viện kiểm sát L i khai của các bị cáo phù hợp với: L i khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với k t quả điều tra, Biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; K t luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

T các căn cứ trên có đủ cơ sở k t luận hành vi cất gi trái phép 0,81gam loại Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine và 0,11 gam loại Methamphetamine với mục đ ch để sử dụng của Lò Văn H, Lò Văn P đã phạm vào tội Tàng tr trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trư ng hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đ n ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương Do đó cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò của các bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn H có 01 tiền sự (Đã h t th i hạn bị áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh) là nhân thân xấu. Bị cáo Lò Văn P phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự

Về vai trò đồng phạm : Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, cùng góp tiền, cùng trực ti p đi mua ma túy trong đó Lò Văn H gi vai trò khởi xướng, rủ rê, bị cáo Lò Văn P gi vai trò đồng phạm t ch cực thực hiện hành vi phạm tội Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để cá thể hóa hành vi phạm tội của mỗi bị cáo khi quy t định hình phạt

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo

Về nguồn gốc số ma túy bị thu gi : Lò Văn H, Lò Văn P khai nhận mua ma túy của một nam thanh niên dân tộc Thái ( H, Phong không quen biết và địa chỉ) tại khu vực bản Huông, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu với giá 200.000 đồng vào ngày 11/01/2024 nH do H, Phong không quen bi t và địa chỉ cụ thể của ngư i đàn ông này ở đâu Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra, xử lý

Vật chứng vụ án: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với một chi c xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 26M1-174.51, số khung: 5C6J0FY, số máy: 5C6J124058, xe đã qua sử dụng cũ thu gi của Lò Văn H Quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của gia đình chị Lò Thị C, việc H sử dụng chi c xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì chị C không bi t và không liên quan gì đ n hành vi phạm tội của H, chị có đơn xin lại xe vì là phương tiện đi lại duy nhất để đưa đón các con đi học vì vậy cần tuyên trả lại cho chủ sở h u hợp pháp là chị Lò Thị C.

( Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự )

Về án ph : Các bị cáo là ngư i là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở ở khu vực có điều kiện kinh t - xã hội đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P.

Các bị cáo, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 11/01/2024.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 11/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với các bị cáo

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn P cùng đồng phạm - Tàng tr trái phép chất ma túy, bắt ngày 11/01/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 067058 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ ch ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, ngư i bị bắt và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu Sau đó dán băng d nh màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép giáp lai của phong bì Bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

- Trả cho chị Lò Thị C: Một chi c xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 26M1-174 51, số khung: 5C6J0FY, số máy: 5C6J124058, xe đã qua sử dụng cũ

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu)

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn H, Lò Văn P.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án chị Lò Thị C được kháng cáo phần bản án hoặc quy t định có liên quan đ n quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ