vanban.org

Bản án 92/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 27/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Trần Thị B, Hồ Văn B1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) Xử phạt bị cáo Trần Thị B 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Mỹ N phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Trần Thị B, Hồ Văn B1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST
Ngày: 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Mỹ Phúc.

2. Ông Nguyễn Tùng Châu.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long - tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Thị Mỹ N - sinh năm 1988, nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long

Nơi cư trú: Số A khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang V, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thanh P, sinh năm 1966. Chồng: Lê Văn Ú, sinh năm 1979, có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trần Thị B - sinh năm 1974, nơi sinh: Tỉnh Hà Tĩnh.

Nơi cư trú: Số F khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình P1, sinh năm 1948 và bà Trần Thị D, sinh năm 1952. Chồng: Võ Thanh K, sinh năm 1968, có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Hồ Văn B1 - sinh năm 1975, nơi sinh: Tỉnh Vĩnh Long

Nơi cư trú: Số H khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H (chết) và bà Lê Thị T (chết). Vợ: Bùi Thị Mỹ D1, sinh năm 1984, có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Lê Thanh K1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số A khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

2. Võ Khắc V1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số A ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 40 phút, ngày 08/01/2024, nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân tại nhà số A, khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long có hoạt động mua bán số đề. Đ Công an thành phố V đã kết hợp với Công an phường T, thành phố V tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Huỳnh Thị Mỹ N đang mua bán số đề tại nhà nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ gồm: 03 phơi số đề, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu tím, đang sử dụng có nội dung mua bán số đề, 01 cây viết bic mực xanh, tiền Việt Nam 1.000.000 đồng.

Qua làm việc, N thừa nhận có mua bán số đề được khoảng 15 ngày (từ ngày 25/12/2023 cho đến ngày 08/01/2024) thì bị công an bắt quả tang.

Cách thức N mua bán số đề là: Khi người mua số đề nhắn tin từ SMS, Z (đến tên zalo Huynh N1) qua số điện thoại 0763.785.919 hoặc gặp trực tiếp N1 để mua số đề thì N1 bán và lấy kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh mở trong ngày để tính thắng thua. Tỉ lệ ăn thua là: Các đài miền nam và miền trung thì đối với số đầu, số đuôi và bao lô hai con số thì mua 1.000 đồng trúng được 70.000 đồng, đối với bao lô ba con số thì mua 1.000 đồng trúng được 600.000 đồng, đối với số đá hai con số thì mua 1.000 đồng trúng được 600.000 đồng, đối với số đá ba con thì mua 1.000 đồng trúng được 1.800.000 đồng. Tỷ lệ ăn thua đài miền bắc là đối với hai con số thì mua 1.000 đồng trúng được 75.000 đồng, đối với ba con số thì mua 1.000 đồng trúng được 650.000 đồng, đối với số đá hai con số thì mua 1.000 đồng trúng được 650.000 đồng, đối với số đá ba con thì mua 1.000 đồng trúng được 1.950.000 đồng.

Cơ quan điều tra cùng Huỳnh Thị Mỹ N và các đối tượng mua số đề tiến hành kiểm tra các phơi đề và cộng các phơi đề do N bán ghi trên các phơi đề, các nội dung tin nhắn lưu giữ trong điện thoại và căn cứ kết quả giám định điện thoại đã thu giữ, xác định được từ ngày 25/12/2023 cho đến ngày 08/01/2024, bị cáo N đã dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N, miền T, miền B để bán số đề cho nhiều người với tổng số tiền đánh bạc là 190.746.000 đồng.

Cơ quan điều tra chứng minh được những người mua như sau:

1. Võ Khắc V1 gặp trực tiếp N vào ngày 08/01/2024 mua 03 con số đề đài miền N với tổng số tiền đánh bạc 280.000 đồng.

2. Nghiêm Thị T1 sử dụng điện thoại thuê bao số 0986.047.676 nhắn tin SMS đến thuê bao số 0763.785.919 của N để mua số đề của các đài miền N gồm: Ngày 06/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền đánh bạc 1.440.000 đồng, ngày 07/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền đánh bạc 1.080.000 đồng.

3. Một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) gặp trực tiếp N mua 04 con số đề của các đài miền N ngày 08/01/2024 với tổng số tiền đánh bạc 306.000 đồng.

4. Trần Thị B dùng điện thoại thuê bao số 0359.352.955 nhắn tin Zalo đến thuê bao số 0763.785.919 của N để mua 383 con số đề từ ngày 25/12/2023 cho đến ngày 08/01/2024 với tổng số tiền là 187.640.000 đồng (trong đó 125 con số B tự mua với số tiền 3.993.000 đồng và giao bán 258 con số đề với số tiền 183.647.000 đồng để hưởng tiền huê hồng), ngoài ra trước đó từ ngày 08 đến 10/12/2023 và 23, 24/12/2023 Trần Thị Bình B2 13 con số đề với tổng số tiền đánh bạc là 1.550.000 đồng. Những người tham gia mua số đề của Trần Thị B từ ngày 08/12/2023 đến 08/01/2024 qua điều tra xác định được như sau:

4.1 Hồ Văn B1 dùng điện thoại thuê bao số 0915.732.685 nhắn tin Zalo đến thuê bao số 0359.352.955 của Trần Thị B từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024 mua 94 con số đề của các đài miền N với tổng số tiền đánh bạc là 148.900.000 đồng, mua 22 con số đề của các đài miền T với tổng số tiền đánh bạc là 7.438.000 đồng, mua 36 con số đề của đài miền B với tổng số tiền đánh bạc là 6.105.000 đồng. Tổng cộng 162.443.000 đồng, cụ thể:

Đối với các đài miền N: Ngày 25/12/2023 mua 06 con số đề với tổng số tiền 3.190.000 đồng; ngày 26/12/2023 mua 05 con số đề với tổng số tiền 1.182.000 đồng, ngày 27/12/2023 mua 10 con số đề với tổng số tiền 13.622.000 đồng, ngày 28/12/2023 mua 09 con số đề với tổng số tiền 8.282.000 đồng, ngày 29/12/2023 mua 05 con số đề với tổng số tiền 27.820.000 đồng; ngày 30/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 13.260.000 đồng, ngày 31/12/2023 mua 13 con số đề với tổng số tiền 23.132.000 đồng, ngày 01/01/2024 mua 07 con số đề với tổng số tiền 7.640.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 07 con số đề với tổng số tiền 12.872.000 đồng, ngày 03/01/2024 mua 09 con số đề với tổng số tiền 11.420.000 đồng, ngày 04/01/2024 mua 06 con số đề với tổng số tiền 6.610.000 đồng, ngày 05/01/2024 mua 07 con số đề với tổng số tiền 11.060.000 đồng, ngày 06/01/2024 mua 05 con số đề với tổng số tiền 5.250.000 đồng, ngày 07/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 1.780.000 đồng, ngày 08/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 1.780.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc các đài miền N là 148.900.000 đồng.

Đối với các đài miền T: Ngày 26/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 525.000 đồng, ngày 27/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 720.000 đồng, ngày 28/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 1.495.000 đồng, ngày 29/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 890.000 đồng, ngày 30/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 890.000 đồng, ngày 31/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 2.422.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 496.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc các đài miền T là 7.438.000 đồng.

Đối với đài miền B: Ngày 25/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 480.000 đồng, ngày 26/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 270.000 đồng, ngày 27/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 270.000 đồng, ngày 28/12/2023 mua 05 con số đề với tổng số tiền 885.000 đồng, ngày 29/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 2.100.000 đồng, ngày 30/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 615.000 đồng, ngày 31/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 405.000 đồng, ngày 01/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 405.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 03 con số đề với tổng số tiền 270.000 đồng, ngày 03/01/2024 mua 01 con số đề với tổng số tiền 135.000 đồng, ngày 05/01/2024 mua 03 con số đề với tổng số tiền 270.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài miền B là 6.105.000 đồng.

4.2 Lê Thị Thùy L dùng điện thoại thuê bao số 0936.396.009 nhắn tin SMS đến thuê bao số 0359.352.955 của Trần Thị B mua số đề từ ngày 08 đến 10/12/2023 và 23, 24/12/2024, từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024. L mua 58 con số đề của các đài miền N với tổng số tiền đánh bạc là 9.621.000 đồng, mua 13 con số đề của các đài miền T với tổng số tiền đánh bạc là 2.853.000 đồng, mua 24 con số đề của đài miền B với tổng số tiền đánh bạc là 3.115.000 đồng, cụ thể:

Đối với các đài miền N: Ngày 08/12/2023 mua 01 con số đề với tổng số tiền 102.000 đồng, ngày 09/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 468.000 đồng, ngày 10/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 320.000 đồng, ngày 23/12/2023 mua 01 con số đề với tổng số tiền 360.000 đồng, ngày 24/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 360.000 đồng, ngày 25/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 1.051.000 đồng, ngày 26/12/2023 mua 03 con số đề với số tổng tiền 310.000 đồng, ngày 27/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 1.360.000 đồng, ngày 28/12/2023 mua 06 con số đề với tổng số tiền 404.000 đồng, ngày 29/12/2023 mua 03 con số đề với số tiền 320.000 đồng, ngày 30/12/2023 mua 04 con số đề với tổng số tiền 440.000 đồng, ngày 31/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 360.000 đồng, ngày 01/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 950.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 05 con số đề với tổng số tiền 631.000 đồng, ngày 03/01/2024 mua 03 con số đề với số tiền 385.000 đồng, ngày 04/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 950.000 đồng, ngày 05/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 300.000 đồng, ngày 07/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 300.000 đồng, ngày 08/01/2024 mua 03 con số đề với tổng số tiền 310.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 9.621.000 đồng.

Đối với các đài miền T: Ngày 31/12/2023 mua 03 con số đề với tổng số tiền 998.000 đồng, ngày 01/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 200.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 935.000 đồng, ngày 03/01/2024 mua 03 con số đề với tổng số tiền 240.000 đồng, ngày 04/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 300.000 đồng, ngày 05/01/2024 mua 01 con số đề với tổng số tiền 180.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài miền T3 là 2.853.000 đồng.

- Đối với các đài miền B: Ngày 08/12/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 25/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 295.000 đồng, ngày 26/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 27/12/2023 mua 01 con số đề với tổng số tiền 135.000 đồng, ngày 28/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 29/12/2023 mua 01 con số đề với tổng số tiền 135.000 đồng, ngày 31/12/2023 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 01/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 535.000 đồng, ngày 02/01/2024 mua 03 con số đề với tổng số tiền 920.000 đồng, ngày 03/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 04/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 160.000 đồng, ngày 05/01/2024 mua 01 con số đề với tổng số tiền 135.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài miền B là 3.115.000 đồng.

4.3 Lê Ngọc T2 dùng điện thoại thuê bao số 0944.097.709 nhắn tin Zalo đến thuê bao số 0359.352.955 của Trần Thị B mua 05 con số đề của các đài miền N ngày 04/01/2024 với tổng số tiền đánh bạc là 2.430.000 đồng.

4.4 Lê Thanh K1 sử dụng số điện thoại có số thuê bao 0939.758.827 nhắn tin Zalo đến thuê bao 0359.352.955 của Trần Thị B mua các con số đề các đài miền N ngày 03/01/2024 mua 01 con số đề với tổng số tiền 270.000 đồng; ngày 05/01/2024 mua 02 con số đề với tổng số tiền 530.000 đồng; ngày 07/01/2024 mua 04 con số đề với tổng số tiền 3.800.000 đồng. Riêng ngày 05/01/2024 mua 01 con số đề đài miền B với tổng số tiền 135.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc các đài miền N là 4.600.000 đồng, đài miền B là 135.000 đồng.

Thời gian bán số đề của Huỳnh Thị Mỹ N thì N thu lợi bất chính được 2.250.000 đồng, Trần Thị B thu lợi bất chính được 2.250.000 đồng.

Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên vào ngày 11/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, đến ngày 25/01/2024 khởi tố bị can đối với Huỳnh Thị Mỹ N; ngày 24/7/2024 khởi tố bị can đối với Trần Thị B; ngày 16/9/2024 khởi tố bị can đối với Hồ Văn B1 cùng về tội “ Đánh bạc” và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay.

Cáo trạng số 93/CT-VKS.TPVL ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Huỳnh Thị Mỹ Nhung, Trần Thị Bình và Hồ Văn B1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, 35, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng

Buộc bị cáo N phải nộp 122.163.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc và 2.250.000 đồng tiền thu lợi từ việc phạm tội. Tổng cộng 124.413.000 đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, 35, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị B từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng

Buộc bị cáo Trần Thị B phải nộp lại 4.913.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc và 2.250.000 đồng tiền thu lợi từ việc phạm tội. Tổng cộng 7.163.000 đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn B1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

Buộc bị cáo Hồ Văn B1 phải nộp 62.140.000 đồng tiền dùng để đánh bạc.

Buộc Võ Khắc V1 nộp lại 280.000 đồng và Lê Thanh K1 nộp lại 2.800.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu tím bị bể màn hình; 01 điện thoại Samsung màu đen bị bể màn hình; 01 điện thoại Nokia màu đen là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc.

Trả lại cho bị cáo N số tiền 1.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây viết bic mực xanh đã qua sử dụng.

Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Trần Thị B và Hồ Văn B1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà các bị cáo bị truy tố. Các bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024 bị cáo bán số đề các đài M, Miền T3, M bắc được tổng số tiền là 190.746.000 đồng.

Bị cáo Trần Thị B thừa nhận làm trung gian giao số cho bị cáo N để nhận tiền hoa hồng từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024 với tổng số tiền đánh bạc 187.640.000 đồng.

Bị cáo Hồ Văn B1 là thừa nhận là người mua số đề của bị cáo Trần Thị B từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024 với tổng số tiền 162.443.000 đồng.

Hành vi của bị cáo N, Trần Thị B và Hồ Văn B1 đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015. Do số tiền từng lần đánh bạc của các bị cáo dưới 50.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố các bị cáo N, Trần Thị B và Hồ Văn B1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là chính xác.

Trong thời gian gần đây tình hình tội phạm diễn ra phức tạp trong đó có tội đánh bạc diễn ra ở nhiều nơi, bằng nhiều hình thức được thua bằng tiền khác nhau làm hao tổn vật chất, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình thậm chí từ cờ bạc nhiều người đã phạm tội cướp giật, trộm cắp, lừa đảo ... làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, lợi dụng vào hoạt động xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc nhằm thu lợi bất chính, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội.

Đối với bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với bị cáo Trần Thị B và nhiều người khác từ ngày 25/12/2023 đến ngày 08/01/2024 với tổng số tiền là 190.746.000 đồng, có nhiều lần có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Với hành vi phạm tội này, bị cáo phải nhận một hình phạt tương xứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã nộp lại tiền thu lợi từ việc đánh bạc 2.250.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước; chưa có tiền án, tiền sự; là lao động chính trong gia đình phải nuôi con nhỏ; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Vì vậy, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên mức phạt tiền phải cao hơn bị cáo Trần Thị B mới thỏa đáng.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N phải nộp lại 122.163.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc và 2.250.000 đồng tiền thu lợi từ việc phạm tội. Tổng cộng 124.413.000 đồng.

Đối với bị cáo Trần Thị B và Hồ Văn B1: Bị cáo Trần Thị B thực hiện hành vi phạm tội là vai trò trung gian giúp sức cho bị cáo N, là người nhận tiền từ những người đánh bạc trong đó có bị cáo Hồ Văn B1 giao cho bị cáo N để hưởng tiền hoa hồng. Từ ngày 25/12/2023 đến 08/01/2024, số tiền đánh bạc của bị cáo Trần Thị B giao cho bị cáo N là 187.640.000 đồng, của bị cáo Hồ Văn B1 là 162.443.000 đồng. Do từng lần đánh bạc của các bị cáo Hồ Văn B1 gửi cho bị cáo Trần Thị B nhiều lần trên 5.000.000 đồng nên các bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Với hành vi phạm tội này, các bị cáo phải nhận một hình phạt tương xứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.

Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Trần Thị B đã nộp lại 2.250.000 đồng tiền thu lợi từ việc đánh bạc; bị cáo Trần Thị B và Trần Văn B3 gia đình có công với cách mạng và bản thân bị cáo Trần Văn B3 cũng được nhiều giấy khen của Công an tỉnh V. Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nghề nghiệp ổn định, có thu nhập; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Vì vậy, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt của hai bị cáo là ngang nhau.

Buộc bị cáo Trần Thị B nộp lại số tiền đánh bạc 7.163.000 đồng.

Buộc bị cáo Hồ Văn B1 nộp lại số tiền đánh bạc 62.140.000 đồng (trong đó có 61.060.000 đồng là tiền trúng số đề nhận từ bị cáo Trần Thị B và 1.080.000 đồng là tiền mua số đề chưa trả)

Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với Võ Khắc V1, Lê Thanh K1 có mua số đề của bị cáo N nhưng số tiền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và những người này đều chưa bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc và chưa bị xử phạt hành chính về những hành vi này. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt hành chính đối với Võ Khắc V1, Lê Thanh K1 là đúng quy định của pháp luật.

Buộc Võ Khắc V1 nộp lại 280.000 đồng tiền dùng để đánh bạc.

Buộc Lê Thanh K1 nộp lại 2.800.000 đồng tiền dùng để đánh bạc.

Đối với người đàn ông gặp trực tiếp bị cáo N để mua số đề do không rõ họ tên, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với Lê Thị Thùy L, Lê Ngọc T2 và Nghiêm Thị T1 có mua số đề của bị cáo Trần Thị B nhưng do số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân những người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Hiện nay không có mặt tại địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu tím bị bể màn hình; 01 điện thoại Samsung màu đen bị bể màn hình; 01 điện thoại Nokia màu đen là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây viết bic mực xanh đã qua sử dụng.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Trần Thị B, Hồ Văn B1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35, 17, 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng)

Xử phạt bị cáo Trần Thị B 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn B1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N phải nộp lại số tiền đánh bạc 124.413.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền 1.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003929 ngày 20/11/2024 và 2.250.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003931 ngày 27/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, bị cáo N còn phải nộp 121.163.000 đồng.

Buộc bị cáo Trần Thị B nộp lại số tiền đánh bạc 7.163.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền 2.250.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003933 ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, bị cáo Trần Thị B còn phải nộp thêm 4.913.000 đồng.

Buộc bị cáo Hồ Văn B1 nộp lại số tiền đánh bạc 62.140.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Buộc Võ Khắc V1 nộp lại 280.000 đồng tiền dùng để đánh bạc sung vào ngân sách nhà nước.

Buộc Lê Thanh K1 nộp lại 2.800.000 đồng tiền dùng để đánh bạc sung vào ngân sách nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long được xử lý như sau:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu tím bị bể màn hình; 01 điện thoại Samsung màu đen bị bể màn hình; 01 điện thoại Nokia màu đen.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây viết bic mực xanh đã qua sử dụng.

3. Án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án và danh mục ban hành kèm theo;

Buộc các bị cáo Huỳnh Thị Mỹ N, Trần Thị B, Hồ Văn B1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ