- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Anh, Dương Quốc Huy "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày 31-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sầm Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Sông Hương và ông Hồ Trọng Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lương Văn A (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1998 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn K và bà Nguyễn Thị D; có vợ chị Vương Thị H và 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/10/2024; tạm giam từ ngày 27/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Dương Quốc H1 (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1995 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Đình Q và bà Lê Thị C; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/8/2018 bị cáo bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 28/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/10/2024; tạm giam từ ngày 27/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
+ Anh Nông Văn T, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 10 phút ngày 21/10/2024, tại đường nội thôn thuộc thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Tổ công tác công an huyện V và Công an xã L phát hiện Dương Quốc H1 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu kiểm tra. Khi được yêu cầu, H1 tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận đó là gói ma túy Heroine của H1 mua của Lương Văn A ở thôn G, xã L với giá 200.000 đồng, để sử dụng cho bản thân. Tiến hành khám xét chỗ ở khẩn cấp của H1 không phát hiện, thu giữ gì. Tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Lương Văn A tại thôn G, xã L, huyện V. Quá trình khám xét Anh tự giác giao nộp 05 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Anh khai nhận 05 gói ma túy là của Anh tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời, 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho H1 mà có. Về nguồn gốc ma túy, Anh khai nhận: 18/10/2024, Anh đi xe khách lên thành phố L chơi đã gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết được 09 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. Về nhà, Anh sử dụng hết 02 gói, còn lại 07 gói dồn thành 06 gói để sử dụng và bán kiếm lời. Đến 22 giờ 40 phút ngày 20/10/2024, Anh bán cho H1 01 gói với giá 200.000 đồng, còn 05 gói tự giác nộp cho công an.
Tại Kết luận giám định số 473/KL-GĐMT ngày 24/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 0,111 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Dương Quốc H1 và 0,188 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lương Văn A là Heroine.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-VB ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lương Văn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Dương Quốc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Quốc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên bố bị cáo Lương Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quốc H1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn A từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo đều nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị; không có nghề nghiệp ổn định.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,103 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Dương Quốc H1, 01 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong; 0,175 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lương Văn A, 05 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong đã tái niêm phong. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lương Văn A là tiền do phạm tội mà có.
Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận do nghiện ma túy nên bị cáo Dương Quốc H1 đã có hành vi mua của Lương Văn A 0,111 gam Heroine tàng trữ để sử dụng cho bản thân vào ngày 21/10/2024. Bị cáo Lương Văn A đã có hành vi bán trái phép 0,111 gam Heroine cho bị cáo Dương Quốc H1 và tàng trữ trái phép 0,188 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ vào ngày 21/10/2024.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét xử công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để chứng minh bị cáo Lương Văn A có hành vi mua bán trái phép 0,111 gam Heroine cho Dương Quốc H1 và tàng trữ 0,188 gam Heroine để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy bị cáo mua bán trái phép là 0,299 gam Heroine, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Dương Quốc H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,111 gam Heroine mua của Lương Văn A để sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khẳng định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Ma túy huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại, gây mất trật tự an ninh, xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xét xử mức án đủ nghiêm, cách ly cách bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lương Văn A ngày 18/10/2024, quá trình điều tra, xác minh không làm rõ được nhân thân nên không có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Năm 2019, bị cáo Lương Văn A được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong diễn tập khu vực phòng thủ V và bị cáo có ông nội là ông Lương Văn Q1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Dương Quốc H1 có ông nội là ông Dương Cánh S được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án: 0,103 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Dương Quốc H1, 01 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong; 0,175 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lương Văn A, 05 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong đã tái niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lương Văn A là tiền do phạm tội mà có là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do hai bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lương Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lương Văn A 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 21/10/2024.
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Quốc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Dương Quốc H1 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 21/10/2024. 2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,103 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Dương Quốc H1, 01 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong; 0,175 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lương Văn A, 05 mảnh giấy bạc màu trắng cùng bì niêm phong đã tái niêm phong. Tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lương Văn A hiện đang được lưu giữ tại tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện V mở tại Kho bạc Nhà nước huyện V theo tài khoản số 3949.0.1052745. Toàn bộ vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/11/2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lương Văn A và bị cáo Dương Quốc H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND V;
- Công an huyện V;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
- Nhà tạm giữ Công an huyện V;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
Sầm Thị Tươi
- Thi hành án (2);
- LưuHS,TA,THS,VP.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Sông Hương
Hồ Trọng Trung
Sầm Thị Tươi Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND V;
- Công an huyện V;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
- Nhà tạm giữ Công an huyện V;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
Sầm Thị Tươi
- Thi hành án (2);
- LưuHS,TA,THS,VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Văn Hải
Hồ Trọng Trung
Sầm Thị Tươi Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND V;
- Công an huyện V;
- Nhà tạm giữ Công an huyện V;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
- Thi hành án (2);
Sầm Thị Tươi
- LưuHS,TA,THS,VP.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hoàng L Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND V;
- Công an huyện V;
- Nhà tạm giữ Công an huyện V;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
- Thi hành án (2);
Nguyễn Thị Hoàng Liên
- LưuHS,TA,THS,VP.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND V; - Công an huyện V; - Nhà tạm giữ Công an huyện V; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; Bị cáo; - Người bào chữa; - Thi hành án (2); - LưuHS,TA,THS,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |