- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thạch M - Lê Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thạch M. Buộc Buộc ông Lê Văn C trả cho Nguyễn Thạch M 205.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 92/2024/DS-ST Ngày: 30 - 09 - 2024 “T/c hợp đồng dân sự vay tài sản ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Tới
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Để
2. Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2024/TLST - DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 139/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thạch M, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Thạch M trình bày:
Ông và ông Lê Văn C có quan hệ họ hàng nên nhiều lần ông cho ông C vay tiền để làm ăn và xoay sở trong gia đình cụ thể.
Vào ngày 13/3/2023 ông cho ông C vay số tiền 160.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng, thỏa thuận lãi suất 5.000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn trả gốc là trong vòng 02 tuần. Khi cho vay thì giữa ông và ông C có làm biên nhận. Số tiền này ông C chưa trả gốc, lãi cho ông.
Cũng trong khoảng thời gian này, ông không nhớ ngày tháng năm nào, ông có cho ông C mượn số tiền 2.000.000 đồng, không tính lãi, thỏa thuận thời gian trả gốc là khoảng 02 đến 3 ngày, kể từ ngày cho mượn, nhưng đến nay ông C vẫn chưa trả tiền cho ông. Số tiền này giữa ông và ông C không làm biên nhận, cũng không có ai chứng kiến.
Vào ngày tháng năm nào ông không nhớ, ông tiếp tục cho ông C vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 20.000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn trả tiền gốc là từ 01 đến 02 tuần, nhưng đến nay ông C1 vẫn chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho ông.
Tổng cộng 03 lần vay, ông C nợ ông là 167.000.000 đồng và ông C chưa trả gốc, lãi cho ông. Nay ông yêu cầu ông C trả cho ông số tiền vay gốc là 167.000.000 đồng và trả lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 13/3/2023 cho đến nay.
Tại phiên tòa: Ông M xin vắng mặt không có lời trình bày.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn C trình bày:
Ông thừa nhận vào ngày 13/3/2023 ông có vay của ông M số tiền 160.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng, thỏa thuận lãi suất 5.000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn trả gốc là trong vòng 02 tuần. Khi vay thì giữa ông và ông C có làm biên nhận. Số tiền này, sau khi vay khoảng 8 đến 9 ngày thì ông đã trả đủ cho ông M, trong đó tiền gốc là 160.000.000 đồng tiền lãi là 8.000.000 đồng. Ông trả ngay tại quán C2 gần cầu treo Thứ 8, khi trả giữa ông và ông M1 không có làm biên nhận nhưng có vợ chồng chủ quán cơm chứng kiến.
Cũng trong khoảng thời gian này, ông không nhớ ngày tháng năm nào, ông có mượn của ông M số tiền 2.000.000 đồng, không tính lãi, thỏa thuận thời gian trả gốc là khoảng 02 đến 3 ngày kể từ ngày cho mượn. Sau khi mượn, không nhớ ngày tháng năm nào ông có trả cho ông M số tiền 1.500.000 đồng tại Ngân hàng A Chi nhánh T và trả tại nhà ông 500.000 đồng. Khi trả tiền không làm biên nhận giấy tờ gì, cũng không có ai chứng kiến.
Vào ngày tháng năm nào ông không nhớ, ông tiếp tục vay số tiền 5.000.000 đồng thỏa thuận lãi suất 20.000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn trả tiền gốc là từ 01 đến 02 tuần. Khi vay có làm biên nhận, số tiền này ông chưa trả gốc, lãi cho ông M.
Nay ông thừa nhận là chỉ còn nợ ông M số tiền 5.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông M 5.000.000 đồng và trả lãi theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Ông C giữ nguyên lời trình bày.
- Kiểm sát viên phát biểu:
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xác định đúng mối quan hệ pháp luật tranh chấp; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các vị Hội thẩm, Thư ký, nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự
Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn nợ gốc là 167.000.000 đồng và lãi suất là 38.400.000 đồng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tòa án cũng đã Thông báo cho ông C cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng đã hết thời gian ấn định trong thông báo mà ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nên ngày 04/09/2024 Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Quyết định hoãn phiên tòa đến ngày hôm nay.
. Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử xác định mối quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
. Về nội dung tranh chấp: Tại phiên hợp hòa giải ngày 29/07/2024 và tại phiên tòa ông C đã thừa nhận là từ ngày 13/3/2023 ông C có vay của ông M 160.000.000 đồng và sau đó có vay thêm 02 lần là 7.000.000 đồng. Tổng số tiền vay 03 lần là 167.000.000 đồng nên được xem đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C cho rằng, sau khi vay thì ông đã trả cho ông M được 162.000.000 đồng nợ vay gốc và lãi suất phát sinh; ông M không thừa nhận. Ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Mặt khác khi vay 160.000.000 đồng thì ông C có viết biên nhận nợ cho ông M, nhưng hiện tại ông M còn giữ bản gốc giấy biên nhận nợ. Như vậy, ông C phải ý thức được rằng, việc vay nợ có làm biên nhận thì khi trả nợ phải yêu cầu ông M trả lại bản gốc biên nhận nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo bằng văn bản cho ông C về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng đến nay ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo thông báo của Tòa án, Do đó, lời trình bày của ông C là không có căn cứ để chấp nhận.
Xét về lãi suất: Theo đơn khởi kiện của ông M yêu cầu ông C trả lãi suất 1,6%/tháng, tổng số tiền lãi là 38.400.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của ông M là không vượt mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận. Ngoài ra, tại phiên họp hòa giải ngày 29/07/2024 ông M yêu cầu tính lãi suất đến ngày xét xử. Xét thấy yêu cầu của ông M về nội dung là chưa phù hợp theo quy định của pháp luật. Bỡi ông M1 không khởi kiện bổ sung và nếu Hội đồng xét xử chấp nhận là vi phạm pháp luật “Vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện” theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu về phần này của ông M.
Từ những nhận định nêu trên, sau khi thảo luận, nghị bàn Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông Lê Văn C trả cho Nguyễn Thạch M 205.400.000 đồng, trong đó nợ gốc là 167.000.000 đồng, lãi suất là 38.400.000 đồng.
. Về án phí: Bị đơn ông Lê Văn C bị buộc trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.270.000 đồng (205.400.000 đồng x 5%); nguyên đơn ông Nguyễn Thạch M không phải chịu án dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại 5.135.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho ông Nguyễn Thạch M, theo Biên lai thu số 0005031 ngày 20/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 227, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thạch M. Buộc Buộc ông Lê Văn C trả cho Nguyễn Thạch M 205.400.000 đồng, trong đó nợ gốc là 167.000.000 đồng, nợ lãi là 38.400.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật dân sự; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc bị đơn ông Lê Văn C chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.270.000 đồng; nguyên đơn ông Nguyễn Thạch M không phải chịu án dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại 5.135.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho ông Nguyễn Thạch M, theo Biên lai thu số 0005031 ngày 20/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.
Báo quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KG; - VKSND huyện AM - Chi cục THADS huyện AM; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Trần Văn Tới |