vanban.org

Bản án 92/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Viết C1, Nguyễn Văn H1 mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––
Bản án số: 92/2023/HS-ST
Ngày: 27/9/ 2023.

NHÂNDANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- T2 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thanh Hoàn

Bà Lê Thị Thu Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Viết C1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 03/6/2001, tại: thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 4, khu N1 , phường C2, thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Viết C3 và bà Đỗ Thị H2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 17/6/2000, tại: thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn 6, xã H3, thành phố Móng Cái, Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị M1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 12/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Quốc T1, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn 7, xã H3, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Người làm chứng: anh Trần Quốc T2

- Người chứng kiến: Bùi Văn Q1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 3/2023, Bùi Viết C1 thấy có người sử dụng tài khoản mạng Zalo tên “Vẫn thế thôi” rao bán thuốc lá tẩm ma túy - thường gọi là thuốc lá “vui” nên nảy sinh ý định mua để bán kiếm lời. C1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Viết C1” liên lạc hỏi mua thuốc lá “vui”, thì được người sử dụng tài khoản “Vẫn thế thôi” thông báo giá bán 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu là 250.000 đồng, khi mua sẽ nhận được thuốc lá “vui” dưới dạng bưu phẩm do nhân viên giao hàng chuyển đến, người mua trả tiền mua thuốc lá “vui” và tiền công vận chuyển cho nhân viên giao hàng. Sau khi hỏi mua, C1 đăng thông tin rao bán thuốc lá “vui” lên mạng xã hội.

Ngày 24/3/2023, Nguyễn Văn H1 sử dụng tài khoản mạng Zalo tên “H1 Nguyễn” liên lạc với tài khoản mạng Zalo “Viết C1” của Bùi Viết C1 đặt mua 01 bao thuốc lá “vui”, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. C1 thông báo giá bán 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu là 300.000 đồng và 50.000 đồng tiền cước gửi xe ô tô khách, rồi yêu cầu H1 chuyển tiền vào tài khoản số 1018175858 của C1 mở tại Ngân hàng SHB. H1 đồng ý mua và chuyển khoản 350.000 đồng cho C1. Sau khi nhận được tiền, C1 liên lạc với tài khoản “Vẫn thế thôi” đặt mua 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu với giá 250.000 đồng. Cùng ngày, C1 nhận được bao thuốc lá “vui” được đóng gói từ nhân viên giao hàng. C1 thanh toán tiền mua ma túy cùng tiền công giao hàng cho nhân viên giao hàng, rồi gửi gói hàng có chứa bao thuốc lá “vui” qua xe ô tô khách từ thành phố Cẩm Phả ra thành phố Móng Cái cho H1. Số thuốc lá “vui” nhận được, H1 đem sử dụng hết.

Tiếp theo trong khoảng thời gian từ ngày 13/6/2023 đến ngày 19/6/2023 với cách thức liên lạc, chuyển tiền mua ma túy, rồi giao nhận tương tự, Bùi Viết C1 đã 03 lần mua thuốc lá “vui” của người sử dụng tài khoản “Vẫn thế thôi”, rồi bán lại cho Nguyễn Văn H1 để H1 sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 13/6/2023, H1 liên lạc đặt mua 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu với giá 300.000 đồng của C1 thì C1 đồng ý bán. Khi H1 chuyển 300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C1 thì C1 đặt mua 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu của người dùng tài khoản mạng Zalo “Vẫn thế thôi” với giá 250.000 đồng. Sau khi nhận được bao thuốc lá “vui”, C1 gửi qua xe ô tô khách đến thành phố Móng Cái cho H1. Bao thuốc lá “vui” mua được, H1 đã sử dụng hết.

Lần thứ hai: Ngày 15/6/2023, H1 tiếp tục liên lạc với C1 đặt mua 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu, nhưng thỏa thuận khi nào nhận được thuốc lá “vui” mới trả tiền thì C1 đồng ý. Sau đó, C1 liên lạc đến tài khoản Zalo “Vẫn thế thôi” đặt mua 03 bao thuốc lá “vui”, mỗi bao chứa 07 điếu với giá 250.000 đồng/bao. Cùng ngày, C1 nhận được 03 thuốc lá “vui”, qua kiểm tra thấy có 01 bao bị gẫy 02 điếu nên vứt 02 điếu thuốc gẫy đi, rồi gửi 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu qua xe ô tô khách đến thành phố Móng Cái cho H1. Còn lại 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu và 01 bao thuốc lá “vui” chứa 05 điếu C1 cất giấu để bán.

Cùng ngày, H1 nhận được bao thuốc lá “vui” do C1 bán thì H1 chuyển khoản 300.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của C1. Khoảng 17 giờ cùng ngày H1 được 02 người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) lần lượt gọi điện thoại đặt mua mỗi người 01 điếu thuốc lá “vui”. H1 đồng ý bán với giá 200.000 đồng/01 điếu và hẹn đến khu vực gần nhà H1 ở Thôn 6, xã H3, thành phố Móng Cái, để giao dịch. Khoảng 30 phút sau, lần lượt 02 người thanh niên trên đến điểm hẹn và được H1 bán cho mỗi người 01 điếu thuốc lá “vui” với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 tiếp tục được đối tượng tên là Long (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại đặt mua 01 điếu thuốc lá “vui”. H1 đồng ý bán với giá 200.000 đồng và hẹn đến khu vực cầu Khe Rè thuộc Khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái để giao dịch. Sau đó, tại điểm hẹn H1 bán cho Long 01 điếu thuốc lá “vui” với giá 200.000 đồng. Số thuốc lá “vui” còn lại (04 điếu) H1 đem sử dụng hết.

Lần thứ ba: Ngày 19/6/2023, H1 tiếp tục liên lạc với C1 đặt mua 02 bao thuốc lá “vui”. C1 đồng ý bán 01 bao thuốc lá “vui” chứa 07 điếu với giá 200.000 đồng và 01 bao thuốc lá “vui” chứa 05 điếu với giá 100.000 đồng. Lúc này do tài khoản ngân hàng hết tiền nên H1 đã đưa 300.000 đồng, nhờ 01 người thanh niên không quen biết chuyển khoản giúp đến cho C1. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H1 được đối tượng tên là Long gọi điện thoại đặt mua 05 điếu thuốc lá “vui”. H1 đồng ý bán với giá 200.000 đồng/01 điếu và hẹn Long đến khu vực quán nước cạnh cổng chào khu Thượng Trung, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái để giao dịch. Sau đó, H1 nhờ anh Trần Quốc T2 (sinh năm 2000, trú tại Khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 14K1-301.55 chở H1 đến điểm hẹn, nhưng không nói cho anh T2 biết mục đích đi bán ma tuý. Tại nơi hẹn, khi H1 cùng anh T2 và bạn của H1 tên là Dương (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang ngồi uống nước, thì Long đến và cùng ngồi uống nước. Lúc này, H1 lấy ra 05 điếu thuốc lá “vui” đưa cho Long, nhưng do Long không có đủ tiền nên đã trả lại 01 điếu thuốc lá “vui” và đưa cho H1 800.000 đồng, thì Tổ công tác của Công an phường Ninh Dương đến yêu cầu kiểm tra. Thấy vậy, Long vứt lại 04 điếu thuốc lá “vui” và bỏ chạy thoát. Tổ công tác kiểm tra đã phát hiện thu giữ:

- Trên mặt bàn quán nước nơi H1 ngồi có 01 điếu thuốc hình trụ tròn màu trắng xanh, dài khoảng 08cm, đầu điếu thuốc dán miếng giấy hình tròn màu trắng in chữ “TOM”, bên trong chứa sợi thực vật; 01 túi nilon miệng túi có khóa kẹp nhựa, kích thước khoảng (10x10)cm, bên trong đựng 04 điếu thuốc màu trắng xanh, mỗi điếu đều có kích thước dài khoảng 08cm, đầu điếu thuốc có dán miếng giấy hình tròn màu trắng in chữ “TOM”, bên trong có chứa các sợi thực vật khô.

- Trong túi quần bên phải của H1 đang mặc có 01 túi nilon miệng túi có khóa kẹp nhựa, kích thước khoảng (10x10)cm, đựng 05 điếu thuốc màu trắng xanh, mỗi điếu dài khoản 08cm, đầu điếu thuốc có dán miếng giấy hình tròn màu trắng in chữ “TOM”, bên trong có chứa các sợi thực vật khô;

- Trong túi quần bên trái của H1 đang mặc có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0395.812.312;

- Trong tay trái của H1 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cùng 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng;

Ngoài ra, tạm giữ của anh Trần Quốc T2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 14K1-301.55 (bút lục số 36-37).

Tại bản Kết luận giám định số 4763 ngày 26/6/2023, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Đều tìm thấy chất ma túy ADB-BUTINACA trong các điếu thuốc thu giữ niêm phong gửi giám định.

- Tổng khối lượng các điếu thuốc trong niêm phong thu giữ trên bàn nơi Nguyễn Văn H1 ngồi khi kiểm tra ngày 19/6/2023 là 06 gam.

- Tổng khối lượng các điếu thuốc trong niêm phong thu giữ trong túi quần bên phải của Nguyễn Văn H1 khi kiểm tra ngày 19/6/2023 là 6,27 gam.

(Viện khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn định lượng ADB-BUTINACA nên không xác định được hàm lượng và khối lượng ma tuý trong các mẫu gửi giám định) (bút lục số 43).

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 29/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn H1 và Bùi Viết C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tạm giữ của C1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0984.823.621.

Quá trình điều tra, Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, Bùi Viết C1 còn khai từ tháng 3/2023 đến ngày 29/6/2023, C1 đã nhiều lần giới thiệu người mua để người dùng tài khoản Zalo “Vẫn thế thôi” bán thuốc lá “vui” và được người này trả công cho C1 50.000 đồng cho mỗi bao thuốc lá “vui” bán được. Tuy nhiên C1 không nhớ cụ thể về thời gian, số lần giới thiệu, lai lịch người mua và số tiền hưởng lợi từ việc giới thiệu này.

Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSMC ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Quốc T1 có lời khai: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 14K1-301.55 là của anh. Ngày 19/6/2023 anh để xe ở nhà, con trai anh là Trần Quốc T2 lấy xe đi và chở bị cáo H1 đến điểm hẹn giao thuốc lá tẩm ma túy và bị công án bắt giữ. Anh đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc mô tô và không có đề nghị gì.

Người làm chứng Trần Quốc T2 vắng mặt nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra xác định: khoảng 20 giờ ngày 19/6/2023 H1 nhờ T2 chở đến khu vực quán nước cạnh cổng chào khu Thượng Trung, phường Ninh Dương, Móng Cái nhưng không nói cho T2 biết đến đó để gặp ai và làm gì. Tại đây H1 lấy ra 05 điếu thuốc lá đưa cho một người thanh niên (sau này biết tên là Long). Do Long không đủ tiền trả cho 05 điếu thuốc nên Long đã trả lại H1 01 điếu, Long cầm 04 điếu và đưa cho H1 800.000đồng thì bị tổ công tác của công an phường Ninh Dương kiểm tra. Long vứt lại 04 điếu thuốc và bỏ chạy thoát. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng là 10 điếu thuốc; 800.000đ; điện thoại của H1 và xe máy do T2 điều khiển đưa về trụ sở công an lập biên bản.

Người chứng kiến là Bùi Văn Q1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/6/2023, anh được tổ công tác của công an phường Ninh Dương mời tham gia chứng kiến việc lập biên bản thu giữ tang vật của hai thanh niên có tên là Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000 và Trần Quốc T2, sinh năm 2000 có địa chỉ tại xã H3, Móng Cái. Theo đó H1 khai: có người thanh niên tên Long điện thoại cho H1 hỏi mua thuốc lá Chill với số lượng là 05 điếu. H1 nhờ T2 chở đến điểm hẹn và ngồi tại quán nước chờ, đưa thuốc lá cho Long. Long đến nói chỉ đủ tiền lấy 04 điếu nên trả lại H1 01 điếu và đưa H1 800.000đ. Cùng lúc đó Công an phát hiện, Long bỏ chạy thoát, vứt lại 04 điếu thuốc mà H1 vừa đưa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Viết C1 từ 8 (tám) năm đến 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 8 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định. Mặt trước phong bì ghi “Bộ công an. Viện khoa học hình sự. Số 4763/KL-KTHS. Kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an Tp. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” ; 02 sim điện thoại số: 0395.812.312 và 0984.832.621

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi của Bùi Viết C1 và số tiền 800.000đ.

+ Truy thu của bị cáo Bùi Viết C1 số tiền 1.200.000đồng có được do bán ma túy cho H1 và truy thu của bị cáo H1 300.000đ do hưởng lợi từ việc bán ma túy, nộp ngân sách Nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai, nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: trong ngày 24/3/2023 và các ngày 13, 15, 19/6/2023, tại phường C2, thành phố Cẩm Phả, Bùi Viết C1 đã 04 lần mua thuốc lá có tẩm chất ma túy ADB-BUTINACA của người sử dụng tài khoản mạng Zalo “Vẫn thế thôi” với giá 250.000 đồng/bao, rồi bán lại cho Nguyễn Văn H1 với giá 300.000 đồng/bao. Sau khi mua, H1 04 lần bán lại các điếu thuốc lá có tẩm chất ma túy ADB-BUTINACA cho các đối tượng không quen biết và đối tượng tên Long tại địa bàn thành phố Móng Cái, với giá 200.000 đồng/01 điếu, thì bị kiểm tra phát hiện, thu giữ 06 gam thuốc lá có tẩm chất ma túy ADB-BUTINACA. Ngoài ra, H1 còn cất giấu 6,27 gam thuốc lá có tẩm chất ma túy ADB-BUTINACA để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội: mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: đối với hành vi mua bán ma túy của bị cáo C1 và H1 được thực hiện độc lập, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của cá nhân mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo C1 phạm tội lần đầu; bị cáo H1 có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định. Mặt trước phong bì ghi “Bộ công an. Viện khoa học hình sự. Số 4763/KL-KTHS. Kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an Tp. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” là vật Nhà nước cấm lưu hành; 02 sim điện thoại số: 0395.812.312 và 0984.832.621 không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi của Bùi Viết C1 là công cụ các bị cáo dùng để liên lạc sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu phát mại, nộp ngân sách Nhà nước;

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ thu giữ của Nguyễn Văn H1 có được do bán ma túy mà có.

+ Truy thu của bị cáo Bùi Viết C1 số tiền 1.200.000đồng có được do bán ma túy chi bị cáo H1 và truy thu của bị cáo Nguyễn Văn H1 số tiền 300.000đ hưởng lợi do bán ma túy mà có, nộp ngân sách Nhà nước.

Trong vụ án này, có đối tượng sử dụng tài khoản mạng Zalo tên “Vẫn thế thôi” bán ma túy cho C1, cùng người nhân viên giao hàng, nhưng đều không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với nội dung Bùi Viết C1 khai từ tháng 3/2023 đến 29/6/2023 đã nhiều lần giới thiệu người mua để người dùng tài khoản “Vẫn thế thôi” bán thuốc lá “vui” và được người này trả tiền công, tuy nhiên ngoài lời khai của C1 không có tài liệu khác chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý đối với C1 về hành vi này.

Đối với Trần Quốc T2 có hành vi điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn H1 nhưng không biết mục đích H1 nhờ chở đi bán thuốc lá tẩm ma túy nên không đề cập xử lý.

Đối với người thanh niên giúp H1 chuyển khoản 300.000 đồng tiền mua ma tuý cho C1, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Viết C1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định. Mặt trước phong bì ghi “Bộ công an. Viện khoa học hình sự. Số 4763/KL-KTHS. Kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an Tp. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” là vật Nhà nước cấm lưu hành; 02 sim điện thoại số: 0395.812.312 và 0984.832.621

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi của Bùi Viết C1.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000đ

Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 115/2023/THA ngày 12/9/2023.

+ Truy thu của: bị cáo Bùi Viết C1 số tiền 1.200.000đồng và bị cáo Nguyễn Văn H1 300.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Bùi Viết C1 và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1,4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Cỡ chữ