- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn K phạm tội Vi Phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Lô Văn K 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2023/HS-ST Ngày 23-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Lê .
Bà Đặng Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Văn K, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1993 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản L, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn H và con bà Kha Thị S; Vợ: Lữ Thị H1, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khơi nơi cư trú từ ngày 20/4/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH H3
Đại diện theo pháp luật: Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1983. Trú tại: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Đình S1, sinh năm 1975. Trú tại: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt
+ Anh Phan Thanh Đ, sinh năm 1980. Trú tại: Bản M, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 ngày 21 tháng 12 năm 2022, Lô Văn K, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-028.99 di chuyển từ nhà ở xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An đi theo đường Quốc lộ 7 hướng đi lên làng K, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, tỉnh Nghệ An, mục đích để bốc Keo (gỗ keo). Khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến Km 118+200 đường Quốc lộ 7 đoạn đường thuộc địa phận bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An Lô Văn K điều khiển xe ô tô đầu kéo lấn sang phần đường phía bên trái phần đường đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe ô tô mang biển kiểm soát 37K-030.64 do anh Phan Thanh Đ, sinh năm 1980, trú tại bản Mác, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đang điều khiển xe di chuyển đi theo chiều ngược lại. Hậu quả hai xe ô tô liên quan va chạm bị hư hỏng.
Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với anh Lô Văn K, kết quả: 0 miligam/1 lít khí thở.
Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với anh Lô Văn K, kết quả: Âm tính.
Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với anh Phan Thanh Đ, kết quả: 0 miligam/1 lít khí thở.
Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với anh Phan Thanh Đ, kết quả: Âm tính.
Biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận:
Chọn điểm mốc Km 118+200 đường Q tại mép đường bên phải đường Q theo hướng từ huyện C đi huyện T làm mốc chuẩn. Hiện trường được xác định là đoạn đường K+200 đường Quốc lộ 7 thuộc địa phận bản B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đường chạy hướng Đông - Tây, hướng Đ1 là hướng từ huyện T đi huyện C. Đường trải nhựa bằng phẳng, đường cong trái theo hướng từ huyện T đi huyện C, không có vật gì che khuất. Đường rộng 5,8m, lề đường mỗi bên rộng 0,75m, có vạch kẻ tim đường, phần đường bên phải theo hướng từ huyện C đi huyện T rộng 3m, phần đường còn lại rộng 2,8m.
Tại vị trí trên đường, xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-028.99 đang dừng, đầu xe hướng Tây. Đầu phía ngoài của trục bánh trước bên phải của xe cách mép chuẩn là 0,45m về phía Nam, cách mốc chuẩn là 1,25m về phía Tây; đầu ngoài trục bánh trước bên trái của xe cách mép chuẩn là 2,78m, cách mốc chuẩn là 1,3m. Bánh trục phía sau cùng bên phải xe cách mép chuẩn 0,25m, cách mốc chuẩn 12m về phía Đông; bánh trục phía sau bên trái của xe cách mép chuẩn 2,6m, cách mốc chuẩn 12m.
Trên mặt đường, vùng dấu vết gãy vỡ nhựa, kim loại kích thước (6,8x3,8)m. Trung tâm vùng dấu vết cách mép chuẩn 4m, cách mốc chuẩn 16,8m về phía Đông. Toàn bộ vùng gãy vỡ nhựa, kim loại này nằm hoàn toàn tại phần đường phải theo hướng từ huyện T đi huyện C.
Xe ô tô biển kiểm soát 37K-030.64 nằm phía ngoài đường, trên vùng đất trống cạnh phần lề đường phải theo hướng từ huyện T đi huyện C, đầu xe hướng Tây Nam. Mép ngoài trục phía trước bên phải xe cách mép đường phía Nam (mép đường phải theo hướng từ huyện T đi huyện C) là 1,9m, cách mốc chuẩn 17,4m về phía Đông; Mép ngoài trục phía sau bên phải xe cách mép phía Nam 1,3m, cách mốc chuẩn 18,6m. Phía dưới gầm xe ô tô có vùng dấu vết cày đất, chiều hướng từ Đ - T. Điểm đầu vết cày ngay tại mép đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện C, cách mốc chuẩn 22,2m. Điểm cuối của vết cày nằm ngay tại vị trí bánh xe phía trước bên trái của xe, cách mép đường phía Nam 4m. Vết cày có kích thước dài 4,2m, rộng 0,2m, đất bị đẩy dồn về phía bánh xe.
Tại vị trí trên mép đường phía Nam, cách mốc chuẩn 25m có vùng dấu vết cày trượt mặt đường nhựa, đất đá kích thước (8x5)cm chiều hướng Đông Bắc - T. Tại vị trí trên vùng đất bên cạnh mép đường phía Nam phát hiện vùng dấu vết gãy vỡ nhựa của ốp nhựa cản trước của xe ô tô biển kiểm soát 37K-030.64, trung tâm vùng dấu vết cách mép đường phía Nam là 1,9m về phía Nam, cách mốc chuẩn 25,9m về phía Đông.
Biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đối với xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-028.99 ghi nhận:
Tại vị trí thanh kim loại bảo vệ bên trái của rơ moóc, cao cách đất 80cm, cách vị trí trục ngoài bên trái của bánh xe thứ tư có vùng dấu vết trượt xước kim loại, bề mặt bám dính chất màu đỏ kích thước (50x60)cm, chiều hướng từ trước ra sau. T kim loại này bị đẩy cong từ trái sang phải.
Tại chắn bùn trước của bánh xe thứ tư bên trái có vùng dấu vết trượt xước, thủng kim loại, bám dính chất màu đỏ, kích thước (29x12)cm, cao cách đất 80cm, chiều hướng từ trước ra sau.
Tại mặt ngoài bánh lốp thứ tư bên trái có vùng dấu vết trượt xước, rách cao su, trên bề mặt bám dính chất lỏng, cao su màu đen trên diện có kích thước (90x60)cm. Trên trục bánh bám dính một số mảnh vỡ nhựa màu đen, đỏ. Lốp xe không còn hơi.
Tại mặt ngoài bánh lốp thứ năm bên trái có vùng dấu vết trượt xước, mất cao su, chiều hướng từ mặt lăn vào tâm trục, kích thước (25x25)cm.
Tất cả các bánh xe theo thứ tự từ trước ra sau.
Kích thước đầu kéo: (6985x2500x2950) mm
Kích thước rơ moóc: (12400x2500x4000) mm
Biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đối với xe ô tô biển kiểm soát 37K-030.64 ghi nhận:
Vùng ba đờ sốc phía trước đầu xe bị gãy vỡ, rời khỏi xe. Hệ thống đèn chiếu sáng, xi nhan xin đường phía trước bên trái bị gãy vỡ, không còn trên xe. Kiểm tra phần ba đờ sốc rời ra này thấy mặt trước bên trái ốp nhựa tỏa nhiệt gắn biển hiệu xe có vùng dấu vết trượt xước nhựa kích thước (5x2)cm, chiều hướng từ phải sang trái, trước ra sau. Bên trái ba đờ sốc có vùng gãy vỡ nhựa trên diện kích thước (73x60)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái.
Phía bên trái của thanh ngang trước bắt hai đầu xắc xi (điểm nối của thanh ngang này với đầu trước của xắc xi bên trái) có vùng dấu vết trượt xước, móp lõm kim loại, trên bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su kích thước (10x11)cm. Chiều hướng từ trước ra sau, điểm cao nhất cao cách đất 56cm, vùng dấu vết này cách thành ngoài phía trước bên trái đầu xe 40cm.
Phía bên trái nắp capo có vùng dấu vết cong vênh, móp lõm, trượt xước, bong tróc sơn, kim loại kích thước (110x35)cm, chiều hướng từ trước ra sau.
Các bộ phận phía bên trái đầu xe bị trượt xước, đứt rách, móp, lõm sơn, nhựa, kim loại chiều hướng từ trước ra sau.
Ốp kim loại phía trước bên trái đầu xe bị đứt rách, móp lõm, trượt xước sơn, kim loại chiều hướng từ trước ra sau.
Lốp trước bên trái bị bật bung ra khỏi vành, mặt lăn thành lốp, mặt ngoài thành la răng bám dính nhiều đất, bụi cây cỏ.
Bên trái của mặt kính chắn gió phía trước có vùng dấu vết vỡ gương, kính hình mạng nhện trên diện có kích thước (65x92)cm.
Kiểm tra bên trong xe thấy hai túi khí phía trước bị bật bung, gương phía trước, đèn trần phía sau, ghế phía sau bên trái bị bung rời khỏi vị trí cố định ban đầu.
Phía trước của cánh cửa trước bên trái bị cong vênh, móp lõm chiều hướng từ trước ra sau, bung rời ốp nhựa phía dưới
Kích thước bao: (4510x1850x1662)mm
Tại Bản kết luận giám định số: 73/KLGĐ-KTHS(DVCH) ngày 10/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N, phản ánh:
“1. Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô biển số 37K-030.64 di chuyển trên đường Q theo hướng từ huyện T đi huyện C, xe ô tô đầu kéo biển số 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển số 37R-028.99 di chuyển ngược chiều với xe ô tô biển số 37K-030.64.
2. Xe ô tô biển số 37K-030.64 có va chạm với xe ô tô đầu kéo biển số 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển số 37R-028.99, vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 7 theo hướng từ huyện T đi huyện C.
- Trên hai phương tiện:
+ Trên xe ô tô biển số 37K-030.64 ở góc trước bên trái đầu xe.
+ Trên xe ô tô đầu kéo biển số 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển số 37R-028.99 ở thanh kim loại bảo vệ bên trái rơ moóc.
3. Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của xe ô tô biển số 37K-030.64 và xe ô tô đầu kéo biển số 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển số 37R-028.99 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.”
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 41/KLĐG ngày 03/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
“- Phần thiệt hại do tai nạn giao thông (vào ngày 21/12/2022) của 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu: CNHTC, số loại: ZZ4257N3244N1, số khung: LZZ5CLSB0FN075841, số máy: WD61596E220837000042, mang biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc nhãn hiệu: CIMC, số khung: LJRH13384FN031985, mang biển kiểm soát 37R-028.99, tình trạng đã qua sử dụng có giá trị là 31.200.000 đồng (ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).
- Phần thiệt hại do tai nạn giao thông (vào ngày 21/12/2022) của 01 xe ô tô nhãn hiệu: PEUGEOT, số loại: 3008, số khung: RN2MJEP6ZNM091880, số máy: 582328610UF205G02, mang biển kiểm soát 37K-030.64, tình trạng đã qua sử dụng có giá trị là 368.122.700 đồng (Ba trăm sáu mươi tám triệu một trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm đồng).
Bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-TD ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lô Văn K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Văn K mức án từ 06 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Người đại diện theo pháp luật của Bị hại chị Phạm Thị H2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phan Thanh Đ trong quá trình điều tra đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ tiền sửa chữa xe ô tô BKS 37K-030.64 và hỗ trợ tiền thuốc, tổn thất về tình thần đối với anh Đ tổng số tiền 330.000.000đ từ bị cáo Lô Văn K nên chị H2, anh Đ không yêu gì thêm về trách nhiệm dân sự và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Bùi Đình S1 tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo Lô Văn K bồi thường thiệt hại.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, Đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có ý kiến trình bày đầy đủ, có đơn xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người đại diện theo pháp luật của bị hại đã được công bố công khai tại phiên tòa, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 21/12/2022, Lô Văn K làm nghề lái xe ô tô và đã có giấy phép lái xe hạng FC theo quy định, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 37R-028.99 di chuyển từ nhà ở xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An đi theo đường Quốc lộ 7 hướng đi lên làng K, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, khi đi đến Km 118+200 đường Quốc lộ 7 đoạn đường thuộc địa phận bản B, xã T, huyện T, thì K điều khiển xe ô tô đầu kéo lấn sang phần đường phía bên trái phần đường đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe ô tô mang biển kiểm soát 37K-030.64 do anh Phan Thanh Đ, đang điều khiển xe di chuyển đi theo chiều ngược lại. Hậu quả chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 37K-030.64 bị thiệt hại do va chạm gây ra là 368.122.700 đồng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và giá trị tài sản bị thiệt hại đã cấu thành tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo Lô Văn K, sinh năm 1993, bị cáo đã được cấp bằng lái xe hạng FC hợp lệ, như vậy, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, đòi hỏi lái xe phải hết sức cẩn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt Luật giao thông đường bộ. Nhưng do chủ quan, cẩu thả, điều khiển xe ô tô đầu kéo lấn sang phần đường phía bên trái phần đường đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe ô tô mang biển kiểm soát 37K-030.64 do anh Phan Thanh Đ điều khiển gây thiệt hại về tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện theo pháp luật của bị hại trong quá trình điều tra đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự khoan hồng của nhà nước ta mà cải tạo mình thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo lái xe thuê, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập chủ yếu lệ thuộc vào việc lái xe thuê hàng ngày để trang trải cuộc sống nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình thức khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo để sung quỹ nhà nước trong thời gian chấp hành án.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, số loại: 3008, số máy: 582328610UF205G02, số khung: RN2MJEP6ZNM091880, màu sơn: đỏ, mang biển kiểm soát 37K-030.64, tình trạng đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 37000166, cấp ngày 08/7/2022, biển số đăng ký: 37K-030.64. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH H3 là chị Phạm Thị H2, sinh năm 1983, trú tại khối F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu: CNHTC, số loại: ZZ4257N3244N1, số khung: LZZ5CLSB0FN075841, số máy: WD61596E220837000042, mang biển kiểm soát 37H-004.46 kéo theo rơ moóc nhãn hiệu: CIMC, số khung: LJRH13384FN031985, mang biển kiểm soát 37R-028.99; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 37000072, cấp ngày 19/10/2022, tên chủ xe: Bùi Đình S1, biển số đăng ký: 37H-004.46; 01 (một) chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơmi sơ moóc số: 37000026, cấp ngày 11/01/2021, tên chủ xe: Bùi Đình S1, biển số đăng ký: 37R-028.99. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Bùi Đình S1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An là đúng quy định của pháp luật.
+ 01 (một) giấy phép lái xe số 400120015386, cấp ngày 09/11/2022, hạng C, mang tên: Phan Thanh Đ. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Phan Thanh Đ, sinh năm 1980, trú tại bản Mác, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An là đúng quy định của pháp luật.
+ 01 (một) giấy phép lái xe số 660153004588, cấp ngày 25/6/2018, hạng FC, mang tên: Lô Văn K. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là Lô Văn K, sinh năm 1993, trú tại bản L, xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An là đúng quy định của pháp luật.
Trách nhiệm dân sự:
- Anh Bùi Đình S1 là chủ chiếc xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC, số loại ZZ4257N3244N1, mang biển kiểm soát 37R-028.99, không yêu cầu bồi thường.
- Anh Lô Văn K đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản và tổn thất tinh thần cho đại diện theo pháp luật của bị hại chị Phạm Thị H2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phan Thanh Đ tổng số tiền 330.000.000 đồng. Nên chị H2 và anh Đ không có yêu cầu gì thêm.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Lô Văn K 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lô Văn K cho chính quyền UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo Lô Văn K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
[2] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo Lô Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/8/2023. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đã được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Tương Dương; - Công an huyện Tương Dương; - UBND xã Chi Khê; Con Cuông - Bị cáo; Bị hại; - Người CQLVNVLQ; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Tương Dương; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |