vanban.org

Bản án 92/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố QVB phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVB 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/4/2023. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án HSST QVB phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố QVB phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 92/2023/HS-ST
Ngày 29-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chức.

Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My tại điểm cầu trung tâm và ông Quàng Công Thành tại điểm cầu thành phần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công tại điểm cầu trung tâm và ông Lường Văn Hoan tại điểm cầu thành phần - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL và tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện ML, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo

QVB, sinh ngày 01/01/2001, tại thị trấn IO, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu NC, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông QVR, đã chết và con bà LTC, sinh năm 1976; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tòng Văn Minh - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông QVS, sinh năm 1979, địa chỉ: Tiểu khu NC, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL. Có mặt.

- Người phiên cho bị cáo: Ông Lò Văn Thành, địa chỉ: TK2, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo QVB bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 17 giờ 10 phút ngày 18/4/2023, tại bản CT, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang QVB, sinh ngày 01/01/2001, ở tiểu khu NC, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do QVB tự giác lấy từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc giao nộp: 03 gói nilon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng, QVB khai là Heroine để sử dụng;

01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen xám, BKS 26H3-8101, xe qua sử dụng.

Ngày 19/4/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do QVB tự giác giao nộp:

01 gói nilon màu xanh thứ nhất bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,13 gam, lấy 0,13 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu B1;

01 gói nilon màu xanh thứ hai bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,05 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu B2;

01 gói nilon màu xanh thứ nhất bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,07 gam, lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu B3;

Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 849/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận:

Mẫu ký hiệu B1 đến B3 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,25 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo QVB, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra QVB khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/4/2023 QVB đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen xám, BKS 26H3-8101, mượn của anh QVS đến bản NL, thị trấn IO, huyện ML, tại đây QVB có gặp và mua của một người đàn ông tên Luyến (tự giới thiệu tên L ở bản P, PT, ML) 03 gói Heroine với giá 500.000, đồng cất giấu ở trong túi quần phía sau bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng, đi đến khu vực bản CT, thị trấn IO, huyện ML thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy QVB khai mua của một người đàn ông L ở bản P, PT, ML với số tiền 500.000, đồng. Qua xác minh không có ai tên như vậy ở bản

2

P, PT, ML, nên không căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVB.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo QVB đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-ML ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo QVB về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo QVB phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt QVB từ 18 đến 24 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh (đều được niêm phong).

Trả lại cho ông QVS 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen trắng, BKS 26H3-8101, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của gia đình ông QVS, khi QVB mượn mang đi mua ma túy, ông QVS không biết.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

3

các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo QVB thừa nhận: Hồi 17 giờ 10 phút ngày 18/4/2023, tại bản CT, thị trấn IO, huyện ML, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 03 gói Heroine có khối lượng 0,25 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: QVB đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.

Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh (đều được niêm phong).

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen trắng, BKS 26H3-8101, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của gia đình ông QVS, khi QVB mượn mang đi mua ma túy, ông QVS không biết, cần trả lại cho ông QVS.

Về nguồn gốc ma túy QVB khai mua của một người đàn ông L ở bản P, xã PT, huyện ML với số tiền 500.000, đồng. Qua xác minh không có ai tên như vậy ở bản P, PT, ML, nên không căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVB, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố QVB phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVB 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/4/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ bóc mở; 03 mảnh nilon màu xanh (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 19/4/2023).

Trả cho ông QVS 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA màu đen xám, BKS 26H3-8101, số khung RLCJ2S1106Y020048, số máy 2511-020048, không kiểm tra tình trạng máy bên trong, không yếm, không gương chiếu hậu, không chìa khóa, xe qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo QVB phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/8/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ