- Tranh chấp gì? án hình sự — "T T H về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? T4 không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Thạch Thị H và giữ nguyên hình phạt Bản án sơ thẩm số: 77/2023/HS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2023/HS-PT Ngày: 23 - 11 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Tuấn;
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thiết - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 166/2023/TLPT-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Thạch Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2023/HS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo có kháng cáo:
Thạch Thị H, sinh năm 1966, tại Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch S (chết) và bà Đào Thị X; có chồng Nguyễn Văn M và 01 con sinh năm 1992; tiền sự: không;
Tiền án: ngày 18/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc, bị cáo đã nộp xong nhưng chưa xóa án tích.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Văn N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 16/3/2023, tại quán cà phê của anh Lê Bá T thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, lực lượng Công an xã T, huyện T tiến hành kiểm tra bắt quả tang các đối tượng: Thạch Thị H, Võ Quốc T1, Thái Thanh N1, Thạch Văn H1, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị Ngọc M1, Nguyễn Thành T2 có hành vi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền.
Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm:
- 04 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.
- 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành màu trắng, 01 cái nắp nhựa có dán decal màu xanh.
- Tiền Việt Nam trên chiếu bạc là 1.200.000 đồng.
- Tiền thu giữ trên người các đối tượng là: 4.700.000 đồng (trong đó: tiền của Thái Thanh N1 là 3.800.000 đồng, Võ Quốc T1 là 300.000 đồng và của Nguyễn Thành T2 600.000 đồng).
- Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Mastell của Nguyễn Thành T2, 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Thái Thanh N1.
Quá trình làm việc các đối tượng Thạch Thị H, Võ Quốc T1 thừa nhận cùng với Nguyễn Văn N2, Thái Thanh N1, Thạch Văn H1 tham gia chơi đánh bạc trái phép, bằng hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền do Thạch Thị H làm nhà cái. Cách thức chơi như sau: người làm cái để 03 hột xí ngầu vào đĩa sành và dùng nắp nhựa úp lại, để lắc cho người chơi đặt tiền ở vị trí T3 hoặc Xỉu, tỉ lệ ăn thua 1:1, nếu 03 hột xí ngầu cộng lại cho kết quả từ 10 điểm trở xuống thì gọi là Xỉu lúc này người làm cái sẽ thắng tiền của người đặt ở vị trí T3 và thua người đặt ở vị trí Xỉu; kết quả từ 11 điểm trở lên thì gọi là T3 lúc này người làm cái sẽ thắng tiền của người đặt tiền ở vị trí X1 và thua người đặt tiền ở vị trí T3, mỗi ván người chơi đặt từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng, hình thức ăn thua trực tiếp với người làm cái, những người chơi không ăn thua với nhau. Ngoài ra, còn quy định trường hợp B là khi người làm cái sau khi lắc và mở kết quả 03 mặt trên của xí ngầu giống nhau các nút cộng lại lần lượt 3, 6, 9 gọi là Bão Xỉu, nếu các nút cộng lại cho kết quả lần lượt 12, 15, 18 gọi là “Bão Tài”, lúc này người làm cái sẽ lắc lại, người chơi không thắng không thua; chơi lắc tài xỉu khoảng 10 bàn thì bị bắt.
Trước khi tham gia đánh bạc Thạch Thị H mang theo số tiền 700.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng dùng để chơi đánh bạc, kết quả huề vốn; Võ Quốc T1 mang theo số tiền 360.000 đồng, sử dụng 60.000 đồng dùng để đánh bạc, kết quả thua 60.000 đồng; Thái Thanh N1 mang theo số tiền 3.880.000 đồng, sử dụng 30.000 đồng dùng để đánh bạc, kết quả thua 30.000 đồng; Nguyễn Văn N2 mang theo 50.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng dùng để đánh bạc, kết quả thua 50.000 đồng; Thạch Văn H1 mang theo 100.000 đồng, sử dụng 10.000 đồng dùng để đánh bạc, kết quả thua 10.000 đồng.
Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là: 850.000 đồng (tám trăm năm mươi ngàn đồng).
Thạch Thị H có 01 tiền án về hành vi đánh bạc và Võ Quốc T1 là người có 01 tiền sự, về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà tiếp tục phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Thạch Thị H và Võ Quốc T1, về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2023/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Thạch Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thạch Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo Võ Quốc T1 hình phạt chính là phạt số tiền 25.000.000 đồng, cùng về tội Đánh bạc. Quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03/10/2023 bị cáo Thạch Thị H có đơn kháng cáo nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo trình bày như sau:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung án sơ thẩm; do đó, cấp sơ thẩm kết án bị cáo không oan sai, bị cáo kháng cáo xin giàm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Xét kháng cáo của bị cáo nằm trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xét xử phúc thẩm. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là không có cơ sở; bởi lẽ, bị cáo đã bị kết án về hành vi đánh chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và giữ y hình phạt của án sơ thẩm; đồng thời, buộc bị cáo phải đóng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: xét về điều kiện hoàn cảnh sống của bị cáo H, thì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, sinh ra và lớn lên trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không được học hành và bị cáo nghe được tiếng nói phổ thông mà không biết đọc, biết viết nên việc nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Nơi bị cáo sinh sống là vùng đồng bào dân tộc ít người, đời sống dân trí thấp, pháp luật chưa đi sâu đến từng người dân, nên bị cáo kém hiểu biết, nhận thức còn hạn chế trình độ pháp luật chưa cao, nên mới có hành vi đánh bạc dẫn đến hành vi phạm tội như ngày hôm nay.
Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính giản đơn, số tiền bị cáo dùng vào đánh bạc là không lớn. Vì vậy, thấy tính chất mức độ gây nguy hiểm của bị cáo cho xã hội là không cao. Thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bị cáo cũng có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, gia đình bị cáo có chồng bị tai biến bị liệt nửa người chỉ nằm một chỗ, đi đứng thì rất khó khăn, bị cáo không có ruộng vườn, sống vào nghề đi làm thuê, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bản thân bị cáo cũng có bệnh trong người, bị cáo có cha chồng được Nhà nước công nhận liệt sĩ, mẹ chồng được Nhà nước tặng huy chương Mẹ Việt Nam anh hùng, anh chồng tham gia cách mạng hy sinh được Nhà nước công nhận liệt sĩ, hiện tại thì bị cáo đang thờ cúng Mẹ Việt Nam anh hùng.
Từ những phân tích như trên thì căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức án cho bị cáo từ 4 – 6 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Thạch Thị H trình bày: bị cáo biết hành vi lắc tài xỉu ăn tiền là vi phạm pháp luật; bị cáo rất hối hận, xin hưởng án treo để ở nhà lo cho chồng con.
Bị cáo Thạch Thị H nói lời sau cùng: bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo đang bị bệnh nặng, bị cáo xin được hưởng án treo để ở ngoài lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Thạch Thị H khai nhận: khoảng 20 giờ 50 phút ngày 16/3/2023, bị cáo cùng với Võ Quốc T1, Nguyễn Văn N2, Thái Thanh N1 và Thạch Văn H1 có hành vi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền thì bị bắt quả tang. Mặc dù, số tiền đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo Thạch Thị H đã có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích. Do đó, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Thạch Thị Hồng p vào tội: đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi để có thu nhập bất chính mà bị cáo bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có quá trình nhân thân xấu, đã bị kết án về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không chịu khắc phục sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường quy định pháp luật của bị cáo.
Xét án sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án của tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là không nặng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết nào mới, có ý nghĩa làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.
Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên, về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận. Riêng lời bào chữa của vị Trợ giúp viên pháp lý chỉ được chấp nhận một phần về việc bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, do bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, nên buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
T4 không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Thạch Thị H và giữ nguyên hình phạt Bản án sơ thẩm số: 77/2023/HS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thạch Thị H 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Thạch Thị H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC: 01; - TANDCC: 01; - VKSNDCC: 01; - VKSND TVL: 01; - TAND +VKSND HTB: 02; - CQTHADS HTB : 02; - CQTHAHS HTB : 01; - Trại giam + BC: 02; - P HỒ SƠ-CAVL: 01 - STP: 01, - UBND xã Trà Côn: 01; - TNV+P KTNV:02; - Lưu: 06. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thành Tân |