vanban.org

Bản án 92/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn L, cho anh L được ly hôn với chị Trịnh Thị D. Về con chung: Giao con chung tên Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014 cho anh Dương Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/3/2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Bình Thủy.

2. Bà Trương Thị Út Mỹ.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 373/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc tranh chấp:“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm 1970. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TN, xã PT, huyện GCĐ, tỉnh TG.

2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị D, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TN, xã PT, huyện GCĐ, tỉnh TG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn ngày 19/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Dương Văn L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D tiến đến hôn nhân từ trên cơ sở tự nguyện có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang vào năm 2002. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn vấn đề tiền bạc, vợ anh cờ bạc đánh đề gây nợ nần rồi lấy tiền gia đình trả nợ nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến tháng 8 năm 2022 thì chị D và anh ly thân cho đến nay, trong suốt thời gian này chúng tôi không có trao đổi hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn anh yêu cầu ly hôn với chị Trịnh Thị D.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Dương Hồng H, sinh ngày 13/5/2003 và Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014. Hiện nay, cháu H đã trưởng thành, lao động được nên không yêu cầu giải quyết, còn cháu H1 thì đang sống với anh. Ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi cháu H1.

- Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trịnh Thị D vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Dương Văn L, cho anh L được ly hôn với chị Trịnh Thị D.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014 cho anh Dương Văn L được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Trịnh Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Dương Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trịnh Thị D vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị D tham gia phiên tòa lần thứ hai, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông không có ý kiến về việc vắng mặt nguyên đơn anh Dương Văn L, bị đơn chị Trịnh Thị D và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị D kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01 ngày 04/7/2022 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của anh L, căn cứ vào lời khai của anh L và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 6 năm 2022, nguyên nhân do mâu thuẫn vấn đề tiền bạc, chị D cờ bạc đánh đề gây nợ nần rồi lấy tiền gia đình trả nợ nên anh chị thường xuyên cãi nhau. Đến tháng 8 năm 2022 thì chị D và anh đã ly thân cho đến nay, trong suốt thời gian này anh chị không có trao đổi hàn gắn tình cảm. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị D không đến Tòa án, không phản đối yêu cầu ly hôn của anh L nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như chị D mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn như anh L trình bày, nay chị D không muốn hàn gắn tình cảm và cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh L, cho anh L được ly hôn với chị Trịnh Thị D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh L và chị D có có 02 con chung tên Dương Hồng H, sinh ngày 13/5/2003 và Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014. Xét thấy, hiện nay cháu H đã trưởng thành, lao động được nên anh L không yêu cầu giải quyết là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, đối với cháu H1 hiện nay đang sống với anh L. Chị D không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ chị D không có ý kiến về việc anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu H1 theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của anh L về việc giao cháu H1 cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần giao con chung tên Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014 cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con đối với cháu H1 và chị D cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử nhận thấy chị D chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh L chưa có yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh L không yêu cầu giải quyết và chị D cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh L có yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn L, cho anh L được ly hôn với chị Trịnh Thị D.

2. Về con chung: Giao con chung tên Dương Hồng H1, sinh ngày 02/12/2014 cho anh Dương Văn L trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Trịnh Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Dương Văn L chưa có yêu cầu.

Anh Dương Văn L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Trịnh Thị D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Anh Dương Văn L phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng theo biên lai thu số 0028130 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên xem như anh L đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ