vanban.org

Bản án 92/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: TỐNG VĂN B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: TỐNG VĂN B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------------
Bản án số: 92/2022/HSST
Ngày 26/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

- Bà Nguyễn Thị Diệp Anh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Minh - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 71/2022/HSST ngày 20/04/2022 - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/QĐ-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

TỐNG VĂN B; sinh năm 1973; tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: (không xác định); nơi đã cư trú: Số 82 B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: hiện không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: (không); trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tống Duy T (đã chết) và bà: Bùi Thị T (đã chết); vợ là: Nguyễn Thị N và có 02 con (lớn 30, nhỏ 28 tuổi).

Danh chỉ bản số: 046 lập ngày 11/01/2022 tại Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

03 Tiền án:

1. Ngày 08/11/2002 Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm kết án 54 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Ngày 25/12/2009 Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm kết án 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Ngày 30/10/2012 Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm kết án 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: (không).

Bắt quả tang: 05/01/2022.

Tạm giữ: 06/01/2022; tạm giam: 12/01/2022

(Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Văn T; sinh năm 1978

Hộ khẩu thường trú: Đội 1, Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Số 11 ngõ 357 B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 16h20’ ngày 05 tháng 01 năm 2022, Tổ công tác Công an phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ phòng chống tội phạm trên địa bàn, khi đến khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội phát hiện Tống Văn B đang đứng cùng Bùi Văn T; sinh năm 1978; trú tại số 11 ngõ 357 B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội, có biểu hiện nghi vấn hoạt động mua bán trái phép chất ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, B đã tự nguyện giao nộp từ trong túi áo khoác bên phải ra 01 túi nylon (kích thước 3x5 cm) bên trong đựng 12 gói giấy màu trắng (kích thước 0,5x1,5cm) bên trong chứa chất bột màu trắng cho Tổ công tác và khai nhận đó là ma túy Heroine đang mang đi bán cho T 03 gói ma túy Heroine nhưng chưa kịp giao dịch mua bán thì bị kiểm tra bắt giữ. Qua kiểm tra người đối tượng Bùi Văn T, Tổ công tác không phát hiện thu giữ gì liên quan đến chất ma túy. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng Tống Văn B, Bùi Văn T về trụ sở để giải quyết.

Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Tống Văn B: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng, biển kiểm soát 29V6 - 4999, số khung: RRS2CJ30261 - 000644, số máy: RRSSA1P52QMJ *0000644* đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen, kèm sim số 0399.864.856; số Imei 1: 862076458312078, Imei 2: 862076458312086, đã qua sử dụng.

Thu giữ của Bùi Văn T: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, kèm sim số: 0968.586.089; số Imei 353803081771388, đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 386/KLGĐ-PC09 ngày 12/01/2022, của Phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: 01 túi nylon bên trong có 12 gói giấy màu trắng chất bột màu trắng đều là ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,717 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Tống Văn B khai nhận: Bản thân B là đối tượng nghiện ma túy Heroine từ năm 1999, nên B mua ma túy với mục đích để sử dụng và khi có ai hỏi mua B sẽ bán lại kiếm lời. Khoảng 10h00’ ngày 04/01/2022 B đến khu vực chợ Long Biên, Thành phố Hà Nội mua 12 gói ma túy Heroine được đựng trong 01 túi nylon (kích thước 3x5 cm) của một người đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng rồi mang về cất giấu. Đến khoảng 16h00’ ngày 05/01/2022, B nhận được điện thoại của Bùi Văn T từ số điện thoại 0968.586.089 hỏi mua 03 gói ma túy Heroine, B đồng ý bán với giá 300.000 đồng và hẹn giao dịch mua bán tại khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Sau đó, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng, biển kiểm soát 29V-4999 đến khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng gặp T, khi B và T đang đứng cạnh nhau chưa kịp trao đổi mua bán thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. B khai mang bán cho T 03 gói ma túy Heroine, còn lại 09 gói ma túy Heroine B khai nhận để sử dụng và nếu ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời, đây là lần đầu B bán ma tuý. Về số tài sản bị thu giữ, B khai 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen, kèm sim số 0399.864.856, đã qua sử dụng là tài sản của B, có sử dụng vào việc trao đổi mua bán trái phép chất ma tuý với T; còn 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng, biển kiểm sát 29V6-4999 đã qua sử dụng, B mua lại của một người đàn ông không quen biết từ cuối năm 2018 nhưng không có giấy tờ đăng ký xe máy.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn T khai nhận phù hợp với lời khai của B, bản thân T là người nghiện ma túy Heroine nên thông qua mối quan hệ xã hội T được một người đàn ông không quen biết cho số điện thoại của B để mua ma túy sử dụng. Khoảng 16h10’ ngày 05/01/2022, T dùng số điện thoại 0968.586.089 gọi điện đến số 0399.864.856 của B hỏi mua 03 gói ma túy Heroine, B đồng ý bán với giá 300.000 đồng và hẹn 10’ sau sẽ giao dịch mua bán tại khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Sau đó, T đi bộ đến gặp B tại khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng chưa kịp trao đổi mua bán ma túy thì bị kiểm tra bắt giữ. T khai đây là lần đầu tiên mua ma tuý của B để về sử dụng nhưng chưa đưa tiền và chưa nhận ma tuý thì bị phát hiện bắt giữ, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý. Về 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, kèm sim số: 0968.586.089, đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng là tài sản của T, có sử dụng vào việc liên lạc trao đổi mua bán ma túy với B, nên chuyển theo hồ sơ vụ án để Toà án giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng, biển kiểm soát 29V6-4999, số khung: RRS2CJ30261 - 000644, số máy: RRSSA1P52QMJ *0000644* thu giữ của Tống Văn B, qua xác minh xác định người đứng tên đăng ký xe là chị Nguyễn Thị Phương L; sinh năm 1982; trú tại: P.1712 chung cư G số 2 Phạm Văn B, quận C, Thành phố Hà Nội. Chị L khai là chủ sở hữu chiếc xe máy trên từ khi mới mua năm 2006, đến năm 2016 chị L đã bán lại cho một người đàn ông không quen biết, chị L không có ý kiến gì đối với chiếc xe máy trên. Trưng cầu giám định chiếc xe máy trên có số khung, số máy nguyên thủy, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy trên và chuyển theo hồ sơ vụ án để Toà án giải quyết theo thẩm quyền.

Về đối tượng bán ma tuý cho B, quá trình điều tra B khai không biết rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 08/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Tống Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất động cơ và mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tống Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tống Văn B với mức án từ 36 đến 42 tháng tù.

Tang vật: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma tuý và 02 sim điện thoại.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động OPPOA3S thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

+ 01 điện thoại di động Iphone 7 và 300.000 đồng thu giữ của anh Bùi Văn T do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Đối với chiếc xe máy Sapphire biển kiểm soát 29V6-4999, số khung: RRS2CJ30261-000644; số máy: RRSSA1P52QMJ *0000644* ra thông báo trong thời hạn một năm nếu không tìm được chủ sở hữu thì cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước, vì bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu được, tang vật, kết luận giám định, lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ phù hợp nhau, hành vi của bị cáo thể hiện như sau:

Tống Văn B nghiện ma túy. Khoảng 10h00’ ngày 04/01/2022 B đến khu vực chợ Long biên - Thành phố Hà Nội mua 12 gói ma túy của người đàn ông không quen biết rồi mang về nhà cất giấu với mục đích để sử dụng và bán.

Đến khoảng 16h00’ ngày 05/01/2022 Bùi Văn T gọi điện cho B hỏi mua 03 gói ma túy, B đồng ý bán với giá 300.000 đồng và hẹn giao tại khu vực đầu ngõ 256 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Sau đó, B điều khiển xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng biển kiểm soát 29V6 - 4999 đến gặp T tại nơi hẹn. Khi B đang đứng gặp T tại điểm hẹn chưa kịp trao đổi mua bán ma túy thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.

B bị thu giữ: 01 túi nylon bên trong có 12 gói giấy màu trắng (theo Kết luận giám định là ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,717 gam); một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen (kèm sim) và một xe máy Sapphire màu trắng biển kiểm soát 29V6 - 4999.

Như vậy, hành vi của Tống Văn B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo cần thiết phải bị truy tố và đưa ra xét xử.

Xét:

- Nhân thân: Bị cáo có 3 tiền án đều đã được xoá án tích.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Với những phân tích trên về hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả vụ án, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Biện pháp tư pháp:

a. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ ma túy, 02 sim điện thoại.

b. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen thu giữ của bị cáo, do liên quan đến hành vi phạm tội.

c. Trả lại anh Bùi Văn T: Một điện thoại di động Iphone 7 và 300.000, do anh Trưởng chưa mua được ma túy của bị cáo.

- Xe máy nhãn hiệu Sapphire màu trắng biển kiểm soát 29V6 - 4999; số khung: RRS2CJ30261-000644; số máy: RRSSA1P52QMJ *0000644* thu giữ của B, qua xác minh người đứng tên đăng kí xe máy là chị Nguyễn Thị Phương L, nhưng chị L khai vào năm 2016 chị đã bán xe cho một người đàn ông không quen biết và chị không có ý kiến gì về chiếc xe máy. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định chiếc xe máy trên có số khung, số máy nguyên thủy. Bị cáo B khai mua xe máy trên từ cuối năm 2018 nhưng không có giấy tờ.

Xét thấy, chưa có đủ căn cứ xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy trên. Vì vậy, ra thông báo công khai có thời hạn, nếu không có người nhận thì cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước xe máy trên, vì bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: TỐNG VĂN B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Hình phạt:

Xử phạt: TỐNG VĂN B 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 05/01/2022.

4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015.

a. Tịch thu, tiêu huỷ:

- Một phong bì niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trần Huy Vũ, cán bộ Công an phường Âu Duy Tùng, người chứng kiến Khúc Minh Hiếu, đương sự Tống Văn B và hình dấu của Công an phường Chương Dương, bên trong có 12 (mười hai) gói chứa chất bột màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,717 gam (PC09 - Công an Thành phố Hà Nội trích mẫu 0,044 gam) còn lại 0,673 gam Heroine.

- Một sim điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

b. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

Một điện thoại di động kiểu dáng OPPO A3s màu đen, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1 trong máy: 8620 ... 2078, tại thời điểm bàn giao tang vật máy không mở được do đó chất lượng, hiện trạng không rõ, không kiểm tra được Imei, Serial trong máy, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

c. Trả lại anh Bùi Văn T:

+ Một điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7, màu đen (kèm sim), máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI trong máy: 3538 ... 1388, tại thời điểm bàn giao tang vật máy không mở được do đó chất lượng, hiện trạng không rõ, không kiểm tra được Imei, Serial trong máy, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

+ 300.000 đồng (ban trăm nghìn đồng).

d. Trong thời hạn một năm kể từ ngày Chi cục thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm thông báo công khai mà không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước một xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Sapphire, màu trắng; số khung: RRS2CJ30261-000644, số máy: RRSSA1P52QMJ*0000644*, xe máy cũ, đã qua sử dụng, tại thời điểm bàn giao không nổ máy được nên không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng, không rõ nguồn gốc xuất xứ (kèm theo biển kiểm soát 29V6-4999 đã cũ).

(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 26/4/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 17294832 ngày 04/5/2022).

5. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo về những về đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ