vanban.org

Bản án 92/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì màu trắng, đã niêm phong, có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, niêm phong vụ số 161/1, 161/2 ngày 06/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thi N- Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Bản án số: 92/2022/HS-ST
Ngày: 17 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thủy

Ông Nguyễn Công Danh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Long Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2022/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2022/TB-TA ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh năm: 1980, tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố 1, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh B; Nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn L, huyện Đ tỉnh B; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và Nguyễn Thị A (đã chết), bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 04 chị em; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn D (đã ly hôn), bị cáo có 04, lớn nhất sinh năm 1983 nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án- tiền sự: Không. Nhân thân:

+ Quyết định số 29/QĐ-XPVPHC ngày 29/12/2014 của Công an thị trấn L, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị N về hành vi “đánh bạc trái phép” với mức phạt 1.500.000đồng. Bị cáo đóng tiền phạt xong ngày 21/4/2020.

+ Quyết định số 1465/QĐ-XPVPHC ngày 12/5/2020 của Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị N về hành vi “đánh bạc trái phép” với mức phạt 1.500.000đồng. Bị cáo đóng tiền phạt xong ngày 15/5/2020.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/3/2022, đến ngày 08/4/2022 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N không sử dụng ma túy. Để có tiền sử dụng mục đích cá nhân nên vào khoảng tháng 10/2021 N bắt đầu bán ma túy (loại Heroin) tại nhà của N thuộc khu phố 2, thị trấn L, huyện Đ. Vào khoảng 06 giờ ngày 30/3/2022, N đi đến khu vực F, thành phố V mua 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000đồng của một người (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy, N mang về nhà phân chia gói ma túy thành 08 tép ma túy nhỏ (mỗi tép là một đoạn ống hút nhựa bên trong chứa Heroin), N bỏ 07 tép ma túy vào trong một vỏ hộp thuốc lá hiệu Jet màu trắng, 01 tép ma túy còn lại N để trên bàn trong nhà. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Trần E đi bộ đến nhà N hỏi mua 650.000đồng ma túy, N đồng ý. N đi lấy 07 tép ma túy được bỏ trong hộp thuốc lá bán cho E và lấy số tiền 650.000đồng từ E. Sau khi mua ma túy, E lấy 01 tép ma túy ra cầm trên tay để kiểm tra thì ngay lúc này Công an thị trấn L đến kiểm tra nhà N, thấy công an, E bỏ chạy và vứt bỏ vỏ hộp thuốc lá bên trong chứa 06 tép ma túy (hiện không thu hồi được), còn 01 tép ma túy E vẫn cầm trên tay thì bị bắt và thu giữ. Cơ quan công an tiếp tục kiểm tra nhà N thì phát hiện thu giữ 01 tép ma túy còn lại của N, N khai nhận mục đích cất giấu gói ma túy trên là để bán lại cho người khác.

Qua điều tra xác định, N đã bán ma túy cho E được 05 lần, mỗi lần bán 01 tép ma túy Heroin với giá 100.000đồng, lần thứ 6 bán cho E 07 tép ma túy với giá 650.000đồng thì bị bắt. Ngoài ra, N còn bán cho Nguyễn Duy K 02 lần, mỗi lần bán 01 tép ma túy với giá 80.000đồng và còn bán ma túy cho nhiều đối tượng khác (không rõ nhân thân, lai lịch).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

+ 02 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong hai phong bì màu trắng, sau khi gửi giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã niêm phong lại vụ số 161/1, 161/2 ngày 06/4/2022.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.090.000đồng (trong đó có 650.000 đồng là tiền N bán ma túy cho E có được).

Hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý chờ xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 161/KLGĐ-KTHS-MT ngày 06/4/2022 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận:

1. Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh-hàn kín hai đầu (mẫu A1), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu vân tay màu đỏ ghi: “Trỏ trái, trỏ phải- Nguyễn Thị N”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy G, Nguyễn Anh P, Dương Văn T, Phan Ngọc T1, gửi đến giám định có khối lượng 0,0353 gam, là ma túy, loại Heroin.

2. Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam-hàn kín hai đầu (mẫu A2), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an thị trấn L- CAH.Đ, tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy G, Trần Văn T2, Dương Văn T, Nguyễn Anh L, Trần E, gửi đến giám định có khối lượng 0,0758 gam, là ma túy, loại Heroin.

Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSLĐ ngày 11/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy mình không bị oan và thấy hành vi của mình sai trái, bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo đã lớn tuổi xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Về tội danh và hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 30/3/2022 tại nhà của Nguyễn Thị N thuộc khu phố 2, thị trấn L, huyện Đ Nguyễn Thị N đã bị Công an thị trấn L, huyện Đ bắt quả tang vì có hành vi bán trái phép cho Trần E 07 tép ma túy được bỏ trong vỏ hộp thuốc lá hiệu Jet với số tiền là 650.000đồng, khi E đang lấy một trong bảy tép ma túy ra kiểm tra thì thấy công an, E bỏ chạy và vứt bỏ vỏ hộp thuốc lá bên trong chứa 06 tép ma túy (hiện không thu hồi được), còn 01 tép ma túy E cầm trên tay thì bị bắt và thu giữ, theo kết luận giám định 01 gói ma túy có khối lượng 0,0758 gam, là chất ma túy, loại Heroine. Sau đó Công an tiến hành kiểm tra, khám xét nhà của E và thu giữ 01 gói ma túy của E đang cất giấu trong bếp nhà E với mục đích để bán cho người khác, theo giám định gói ma túy này có khối lượng 0,0353 gam, là ma túy, loại Heroine. Đồng thời, N, E và Nguyễn Duy K đều khai nhận, trước đó N đã bán ma túy cho E được 05 lần, mỗi lần bán 01 tép ma túy Heroine với giá 100.000đồng, N bán cho K 02 lần, mỗi lần 01 tép ma túy Heroine với giá 80.000đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo N đã vi phạm vào điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được rằng ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe của những người sử dụng, nhưng bị cáo lại mua về để bán cho các con nghiện nhằm thu lợi bất chính, việc làm của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại sức khỏe cho một số bộ phận trong xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào năm 2014 và năm 2020 đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”. Do đó, phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng thấy rằng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: 02 phong bì màu trắng, đã niêm phong, có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, niêm phong vụ số 161/1, 161/2 ngày 06/4/2022 là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: 1280, số mei: 352055/02/051781/7, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong là tài sản bị cáo dùng để liên hệ mua bán chả cá và cá nhân không liên quán đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 1.090.000đồng, trong đó có 650.000đồng là tiền bán ma túy cho E, đây là khoản thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước, còn lại 440.000đồng là tiền cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Đối với Trần E mua ma túy của N tang trữ với mục đích để sử dụng, số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ được có khối lượng dưới 0,1 gam, bản thân E chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi quy định tại các Điều 249, 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật hình sự, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của BLHS. Nguyễn Duy K có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ chuyển xử lý hành chính đối với E về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đối với K về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật. Đối với người bán ma túy cho N, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì màu trắng, đã niêm phong, có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, niêm phong vụ số 161/1, 161/2 ngày 06/4/2022.

+ Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: Số tiền 650.000đồng (sáu trăm năm mươi ngàn đồng).

+ Trả lại cho bị cáo N: Số tiền 440.000đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: 1280, số mei: 352055/02/051781/7, đã qua sử dụng không rõ tình trạng bên trong.

(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền đang tạm giữ theo các biên bản giao nhận vật chứng số 88/BB-CCTHADS ngày 12/7/2022 và Biên lai thu tiền số 0002591 ngày 27/4/2022).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/8/2022), bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ