- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đ, Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/HS-ST Ngày: 15 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lương Hữu San
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Sự
2. Bà Nông Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công anh tỉnh Tuyên Quang để xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 92/2022/TLST-HS, ngày 25 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Lò Văn Đ, sinh ngày 16/9/1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản P, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn H, sinh năm 1966, con bà: Lò Thị O, sinh năm 1967; vợ: Lò Thị T, sinh năm 1994; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Đ hiện đang làm công nhân xây dựng tại nhà máy thủy điện Sông Lô 7 thuộc thôn 1A Thống Nhất, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 25/9/2022 Đ đi bộ từ chỗ làm việc ra Km58 đường Quốc lộ 2 Tuyên Quang – Hà Giang đón xe khách đến huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực cầu Vĩnh Tuy thuộc thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, Đ xuống xe đi bộ thì gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, có dáng người gầy, cao khoảng 1,70m (không rõ năm sinh, địa chỉ), do thấy người này có biểu hiện giống người nghiện ma túy nên Đ đến gần và hỏi: “Anh có trắng không để em hai trăm” – ý hỏi có ma túy Heroine không bán cho hai trăm nghìn đồng, người đàn ông gật đầu bảo:“Có”. Sau đó Đ đưa cho người đàn ông 200.000đ, người này cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 gói bên ngoài gói bằng giấy lịch nhiều màu sắc, bên trong là ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy Đ đi bộ đến khu vực Km70 đường Quốc lộ 2 Tuyên Quang – Hà Giang thuộc thôn 68, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên vào chỗ vắng ven đường lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại Đ gói lại rồi cầm trong lòng bàn tay trái và đi ra đường đón xe khách (lúc này khoảng 13 giờ 50 phút) thì bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên bắt quả tang.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Lò Văn Đ, kết quả Dương tính (Có chất ma tuý trong cơ thể).
Kết luận giám định số 1170/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,187g (Không phẩy một tám bảy gam).
Tại Cáo trạng số 87/CT-VKSHY, ngày 24/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Lò Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn Đ theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng (tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy loại Hêrôin), buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Đ khai nhận mình là người nghiện ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 25/9/2022 tại khu vực Km70 đường Quốc lộ 2 đi Tuyên Quang – Hà Giang thuộc địa phận thôn 68, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang với mục đích sử dụng cho bản thân bị Công an huyện Hàm Yên bắt quả tang. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn Đ còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 25/9/2022, tại đoạn đường Km70 Quốc Lộ 2 Tuyên Quang – Hà Giang thuộc thôn 68, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, Lò Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,187g (Không phẩy một tám bảy gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó HĐXX thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên khả năng nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo để lên mức án cho phù hợp.
Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Lò Văn Đ 01 gói nhỏ bên trong có chứa 0,187g (Không phẩy một tám bảy gam) ma túy, loại Heroin, sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo tại khu vực cầu Vĩnh Tuy thuộc thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vào ngày 25/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, ngày 05/10/2022 Công an huyện Hàm Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo nên HĐXX không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo bị bắt bị tạm giữ, tạm giam (25/9/2022).
2. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy, loại Heroin (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2022 giữa Công an huyện Hàm Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Hàm Yên; - Công an huyện Hàm Yên; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Hàm Yên; - Bị cáo; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - Lưu HSVA, HSTHAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Hữu San |