vanban.org

Bản án 92/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 14/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản”. Về hinh pha ̣t chinh : Căn cứ khoản 3 Điều 175; Điểm s khoản 1, khoản 2 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 92/2022/HS-ST.
Ngày: 14-06-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1, Bà Trần Thị Đông.

2,. Ông Hoàng Hướng Dương.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hả i Yến - Thư ký Tòa

án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham

gia phiên tò a: Bà Nguyễn Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2022/HS-ST ngày 26

tháng 05 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-

HS ngày 30 tháng 05 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN DUY H, Sinh năm 1980, tại Hà Nội; HKTT và nơi ở:

Thôn Th, xã B, huyê ̣n Đông Anh, thành phố Hà Nội ; Nghề nghiệp: Lao động tự

do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giớ i tinh: Nam; Dân tô ̣c: Kinh; Tôn giáo: Không;

́

Quốc Ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Con ông Nguyễn Duy L (SN1960, chết); Con bà Nguyễn

Thị Ch (SN 1959); Có vợ là Nguyễn Thị Th (SN 1983); Có 03 con, lớ n nhất 17

tuổi, nhỏ nhất 04 tuổi; Theo Danh bản, chỉ bản số 561 lập ngày 13 tháng 10 năm

2021 của Công an huyện Đông Anh, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tạm giữ: Từ

ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021; Tạm giam: Từ ngày 13/10/2021, tại Trại

tạm giam số 1 Hà Nội, (SG: 4918.A2/22). Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1972; Trú tại: Thôn Tr, xã TrV, huyện

Mê Linh, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Ông Nguyễn Quang H , sinh

năm 1960; Trú tại: Thôn T, xã Ng, huyê ̣n Đông Anh, thành phố Hà Nội. Vắng mă ̣t

tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Ngày 04 tháng 10 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh

nhận được đơn và lời khai trình báo của ông Lê Văn Th (sinh năm 1972; Trú tại: Thôn Tr, xã TrV, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) về việc ông Thạch bị Nguyễn Duy H lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 30E-593.44. Sau khi nhận được đơn trình báo của ông Th, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ. Kết quả như sau:

Nguyễn Duy H là chủ cửa hàng kinh doanh sửa chữa xe ô tô tại khu C, xã

N, huyê ̣n Đông Anh, thành phố Hà Nội. Quá trình kinh doanh, ông Lê Văn Th nhiều lần đến quán sửa chữa xe ô tô nên quen biết. Khoảng 09h00’ ngày 01 tháng 10 năm 2021, ông Th giao xe ô tô Toyota Fortuner, sơn màu bạc, biển kiểm soát : 30E-593.44 cho anh Lê Văn Th1 (SN: 1988; HKTT: Xóm X, xã TrV, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, là cháu ông Th) nhờ đi đến cửa hàng của H để sửa. Ông Th để giấy tờ xe để trong cốp trước xe. Khoảng 09h30’ cùng ngày, anh Th điều khiển xe ô tô biển kiểm soát : 30E-593.44 đến cửa hàng giao cho Hg. H nhận xe, hẹn ngày 03 tháng 10 năm 2021 đến lấy xe. Anh Th giao xe rồi đi về. Việc giao nhận xe hai bên không lập giấy tờ.

Sau khi nhận xe, do H đang thiếu nợ một khoản tiền chưa có trả, nên nảy

sinh ý định đem cầm cố xe ô tô của ông Th lấy tiền trả nợ. H liên hệ điện thoại nhờ bà Nguyễn Thị Ph (SN 1968; Trú tại: Khu C, xã N, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) để tìm nơi cầm cố, bà Ph đồng ý.

Khoảng 10h00’ ngày 01 tháng 10 năm 2021, H một mình điều khiển xe ô tô

biển kiểm soát: 30E-593.44 đến quán sửa chữa xe ô tô của Nguyễn Đức H tại xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. H nói với H1 đang cần tiền trả nợ nên nhờ H1 cầm cố xe ô tô trên, hứa nếu cầm cố được sẽ cho H1 30.000.000đ (Ba mươi triê ̣u đồng) tiền công, H1 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe chở H1 đến quán tạp hóa khu vực xã B, huyện Đông Anh để mua giấy, bút. H1 tự lấy giấy viết “Giấy mua bán xe”, nội dung ông Th bán chiếc xe ô tô biển kiểm soát : 30E-593.44 cho H1. H1 tự ký vào cả bên mua và bên bán. Sau đó, cả hai đón bà Ph tại C, xã N, huyện Đông Anh rồi cùng đem xe đến cửa hàng mua bán xe ô tô của ông Nguyễn Quang H (SN 1960; Trú tại: Thôn T, xã Ng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) tại thôn T, xã Ng để cầm cố xe. Đến quán, Nguyễn Đức H1 đứng ra giao dịch, cho ông H biết xe ô tô trên của H1 cần tiền nên đem cầm cố. Ông H xem xe, giấy tờ xe và đồng ý cầm cố với giá 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u đồng), hình thức chuyển tiền vào số tài khoản của H1. Để có căn cứ, ông H với H1 thống nhất lập giấy mua bán xe, ông H chuyển tiền vào tài khoản của H1. H1 giao xe và toàn bộ giấy tờ cho ông H.

Sau khi cầm cố xe, H nhờ H1g chuyển khoản toàn bộ số tiền 400.000.000đ

(Bốn trăm triê ̣u đồng) cho chị Nguyễn Thị H (SN 1985; Trú tại: Phố Ngô Thì

Nhậm, phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), thông qua số tài khoản

04250603301 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TP Bank), chủ

tài khoản mang tên Nguyễn Đức C (SN 1978; Trú tại: Xóm T, xã U, huyện Đông

Anh, thành phố Hà Nội) để trả nợ.

Đến ngày 03 tháng 10 năm 2021, do chưa có tiền chuộc xe ô tô nên H một

mình đến nhà gặp ông Th nói đã cầm cố xe ô tô biển kiểm soát : 30E-593.44,

nhưng chưa có tiền chuộc. Ngày 04 tháng 10 năm 2021, ông Th đến Công an xã

Nam Hồng - Công an huyện Đông Anh trình báo về việc bị lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- Của ông Nguyễn Quang H: 01 xe ô tô Toyota Fortuner, sơn màu bạc, biển

kiểm soát: 30E-593.44, số máy: 2TR784095, số khung: 69G3E9008605; 01 Giấy

đăng ký xe ô tô, 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe ô tô, 01 Giấy chứ ng

nhâ ̣n đăng kiểm xe ô tô của xe ô tô biển kiểm soát : 30E-593.44; 01 Giấy bán xe

giữa ông Th và H1; 01 Giấy mua bán xe ô tô giữa ông H và H1.

- Của Nguyễn Duy H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy

A10s màu đen, lắp số thuê bao 0363.941.534.

- Của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu

đen, lắp số thuê bao 0826.477.914.

Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng huyện

Đông Anh kết luận: 01 xe ô tô Toyota Fortuner, sơn màu bạc, biển kiểm soát: 30E-

593.44, số máy: 2TR784095, số khung: 69G3E9008605 trị giá 498.000.000đ (Bốn

trăm chin mươi tám triê ̣u đồng).

́

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức H, Nguyễn Duy H khai nhận hành vi

phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H khai có tiền sử mắc bệnh tâm thần. Ngày

15 tháng 11 năm 2021, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tâm

thần tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương. Ngày 30 tháng 03 năm 2022, Viện

pháp y tâm thần Trung ương đã tiếp nhận Nguyễn Đức H phục vụ việc giám định

tâm thần, đến nay chưa có kết luận giám định.

Ngày 22 tháng 04 năm 2022, Cơ quan điều tra quyết định tách vụ án. Ngày

08 tháng 05 năm 2022, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với

bị can; Tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Đức H để điều tra xử lý sau là

có căn cứ.

Đối với chị Nguyễn Thị H cho Nguyễn Duy H vay số tiền 400.000.000đ

(Bốn trăm triê ̣u đồng). Khoảng 15h00’ ngày 01 tháng 10 năm 2021, H gọi điện yêu

cầu chị H gửi số tài khoản để chuyển tiền trả nợ, chị H nhắn tin gửi số tài khoản

04250603301, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần TP Bank. Sau khi nhận được

tiền, chị H sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Đối với số tài khoản 04250603301

mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần TPBank mang tên anh Nguyễn Đức C. Do biết anh C có tài khoản ngân hàng không có nhu cầu sử dụng nên khoảng tháng 05 tháng 2021, chị H xin anh C số tài khoản trên mục đích để giao dịch. Chị H không biết việc H thực hiện hành vi vi phạm pháp luật để có số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u đồng) để trả nợ, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với bà Nguyễn Thị Ph giới thiệu và dẫn Nguyễn Đức H, Nguyễn Duy H

đến nhà ông H để bán xe. Bà Ph không biết H và H1 thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên của ông Th để mang đi bán cho ông H nên không phạm tội, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Quang H không biết chiếc xe trên là vật chứng của vụ

án. Khi được Cơ quan điều tra thông báo chiếc xe trên là vật chứng của vụ án, ông H đã tự nguyện giao nộp nên không phạm tội, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với 01 xe ô tô Toyota Fortuner, sơn màu bạc, biển kiể m soát : 30E-

593.44; 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe ô tô, 01 Giấy đăng kiểm xe ô tô của xe ô tô biển kiểm soát: 30E-593.44 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Thh. Ngày 11 tháng 10 năm 2021, Cơ quan điều tra xử lý vật chứng trao trả toàn bộ tài sản trên cho ông Lê Văn Th là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Alos màu đen, lắp

số thuê bao 0363.941.534 (Tạm giữ của Nguyễn Duy H); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu đen, lắp số thuê bao 0826.477.914 (Tạm giữ của Nguyễn Đức H); 01 Giấy bán xe giữa ông Th và H1 đề ngày 15 tháng 07 năm 2019 và 01 Giấy mua bán xe ô tô giữa ông H và H1 đề ngày 01 tháng 10 năm 2021 là vật chứng vụ án, chuyển tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

* Về phần dân sự: Ông Lê Văn Th đã nhận lại xe ô tô, không đề nghị H và H1

bồi thường dân sự, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Ông H yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy H trả lại số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u đồng) và xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Duy H khai nhận: Lợi du ̣ng sự tin tưở ng của

ông Lê Văn Th là chủ sở hữu chiếc xe ô tô Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 30E-593.44 nhờ anh Lê Văn T h1 là cháu ông Th mang xe đến cử a hàng của bi ̣ cáo để sử a chữa. Do đang cần tiền trả nợ, bị cáo nảy sinh ý định mang chiếc xe đi cầm cố lấy tiền trả nợ. Khoảng 10h00’ ngày 01 tháng 10 năm 2021, bị cáo điều khiển xe ô tô của ông Th đến quán sửa chữa xe ô tô của Nguyễn Đức H tại xã Ph, huyện S, thành phố Hà Nội để bàn bạc, làm giả giấy tờ mua bán xe của ông Th và cùng nhau mang đi cầm cố cho ông Nguyễn Quang H (SN 1960, ở thôn T , xã Ng , huyê ̣n Đông Anh, thành phố Hà Nội) lấy 400.000.000 đồng để bị cáo trả cho chi ̣ Nguyễn Thị H là chủ nợ mà bị cáo vay trước đó . Bị cáo biết viê ̣c làm của minh là vi pha ̣m

̀ pháp luật nên rất ân hận, hứ a trả lại tiền cho ông H. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa, khắc phục sai lầm.

Tại Bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-ĐA ngày 18 tháng 05 năm 2022 của Viện

Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn

Duy H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”, theo khoản 3 Điều 175 Bộ

luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Khoảng 10h00’ ngày 01 tháng 10 năm 202, sau khi nhâ ̣n sử a chữa chiếc xe ô

tô Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 30E-593.44 của ông Lê Văn Th do anh Lê Văn

Th1 là cháu ông Th mang đến , Nguyễn Duy H đa cùng với Nguyễn Đức H mang̃

xe ô tô đi cầm cố cho ông Nguyễn Quang H lấy 400.000.000 đồng để trả nợ. Hành

vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm ch iếm đoa ̣t tài

sản”, do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị

Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 175; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và

Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H từ năm đến 11 năm

đến 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 10 năm 2021.

- Về phần dân sự: Buô ̣c bi ̣ cáo có trách nhiê ̣m trả cho ông Nguyễn Quang H

số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u đồng).

- Về vâ ̣t chứ ng: Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng

thu giữ của Nguyễn Duy H . Tiếp tu ̣c ta ̣m giữ 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng thu giữ

của Nguyễn Đức H để chờ xử lý sau.

- Về án phi: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm

́

có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông

Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định

của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện

hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết

định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,

quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực

hiện đều hợp pháp.

. Hành vi của bị cáo cùng với Nguyễn Đức H là nguy hiểm cho xã hội ,

vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được

pháp luật bảo vệ. Mặt khác còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn . Trong đó, bị cáo Hường có vai trò

chính, đa khỡ

̉ i xướ ng, rủ rê Nguyễn Đức H cùng thực hiện hành vi phạm tội , nhằm

chiếm đoa ̣t tài sản của ông Th lấy tiền trả nợ mà bị cáo H vay của người khác từ trước

đó. Quá trình điều tra, do Nguyễn Đứ c H khai có tiền sử mắc bệnh tâm thần, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối vớ i H 1, đến nay chưa có kết luận giám định. Viê ̣c Cơ quan điều tra quyết định tách vụ án, ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Đứ c H , tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Đức H để điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

Hành vi lợi dụng sự tín nhiệm của ông Lê Văn Th giao cho bi ̣ cáo sử a chữa

chiếc xe ô tô Toyota Fortuner, biển kiểm soát : 30E-593.44 có trị giá 498.000.000 đồng, bị cáo đa cùng vỡ

́ i Nguyễn Đứ c H mang đi cầm cố cho ông Nguyễn Quang H lấy 400.000.000đồng sử dụng mục đích trả nợ mà bị cáo vay trước đó đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Bộ luật Hình sự 2015 qui định:

“Điều 175. Tội lạm dụng tin nhiê ̣m chiếm đoạt tà i sản:

́

1. Người nà o thực hiê ̣n một trong cá c hà nh vi sau đây nhằ m chiếm đoạt tà i

sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dướ i 100.000.000 đồng hoặc dướ i 4.000.000 đồng nhưng đã bi ̣ xử lý hà nh chinh về hà nh vi ch iếm đoạt tài sản

́

hoặc đã bi ̣ kết á n về tội nà y hoặc…,thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ

200.000.000 đồng đến dướ i 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm”.

Bị cáo nhận thức được đầy đủ về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng

do tham lam tự lợi và ý thức coi thường pháp luật, trật tự kỷ cương xã hội nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứ ng vớ i tính chất, mứ c đô ̣ và hâ ̣u quả do hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ăn năn

hối cải; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Người bị hại có lời khai xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách pháp luật và khoan hồng của Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung:

Khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 qui định: “Người phạm tội còn có

thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng…”.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Tuy

nhiên, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không phạt tiền bị cáo.

. Về phần dân sự:

- Bị hại là ông Lê Văn Th có lời khai xác định: Tài sản của ông bị Nguyễn

Duy H chiếm đoạt là chiếc xe ô tô Toyota Fortuner, biển kiểm soát: 30E-593.44 có trị giá theo kết luâ ̣n đi ̣nh giá là 498.000.000đ (Bốn trăm chín mươi tám triệu đồng). Quá trình điều tra, ông đã được Cơ quan điều tra thu hồi và trao trả lại cho ông sở hữu

chiếc xe ô tô, không bị thiệt hại gì. Ông không yêu cầu gì thêm về dân sự đối vớ i bi ̣

cáo.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quang H có lời khai

xác định: Ông nhâ ̣n cầm cố chiếc xe ô tô của bị cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn

Đức H vớ i số tiền là 400.000.000 đồng. Khi vu ̣ án bi ̣ phát giác , ông đa tự̃ nguyê ̣n

giao chiếc xe ô tô cho Cơ quan điều tra để phu ̣c vu ̣ công tác điều tra , nhưng đến

nay ông chưa được các đối tượng bồi thườ ng. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết buô ̣c

bị cáo có trách nhiê ̣m trả cho ông khoản tiền này . Xét yêu cầu của ông Hiển hoàn

toàn chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự 2015 và Điều

̀

589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự 2015 nên được chấp nhâ ̣n.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy H và Nguyễn Đứ c H cùng khai nhâ ̣n : Số

tiền 400.000.000 đồng bán chiếc xe ô tô của ông Lê Văn Th cho ông Nguyễn

Quang H, được sử du ̣ng vào viê ̣c trả cho chị Nguyễn Thị H toàn bộ khoản nợ mà bị

cáo H vay của chị H từ thời gian t rướ c đó , thông qua hinh thứ c chuyển khoản tại

̀

Ngân hàng TPBank. Tại phiên tòa, bị cáo H vẫn khai xác đi ̣nh đa sữ ̉ du ̣ng toàn bô ̣

số tiền này để trả nợ cho chi ̣ H, Nguyễn Đứ c H không được hưở ng lợi gi. Như vâ ̣y,

̀

cần buô ̣c bị cáo Nguyễn Duy H có trách nhiệm trả ông H toàn bộ khoản tiền trên là

thỏa đáng. Trườ ng hợp giữa bi ̣ cáo Nguyễn Duy H và Nguyễn Đức H có tranh chấp

và có đơn khở i kiê ̣n, sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo

quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

. Về vâ ̣t chƣ́ ng:

. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s

màu đen, bên trong có lắp sim số thuê bao số 0363.941.534 thu giữ của bị cáo

Nguyễn Duy H khi bi ̣ bắt , được xác định là phương tiê ̣n bi ̣ cáo sử du ̣ng vào viê ̣c

phạm tội và là vật chứng của vụ án, nay tịch thu vào ngân sách Nh à nướ c là phù

hợp.

. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu

đen, bên trong có lắp sim số thuê bao số 0826.477.914 thu giữ của Nguyễn Đức H

khi bi ̣ bắt, được xác đi ̣nh là phương tiê ̣n bi ̣ cáo sử du ̣ng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i và vâ ̣t

chứ ng của vụ án. Tuy nhiên, do Cơ quan điều tra đa quyết định tách vụ án, tạm̃

đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Đứ c H, tạm đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Đức H

để điều tra, xử lý sau. Do đó , cần tiếp tu ̣c ta ̣m giữ vâ ̣t chứ ng này ta ̣i Chi cu ̣c Thi

hành án dân sự huyê ̣n Đông Anh để chờ giải quyết sau khi có kết luận điều tra của

Cơ quan điều tra đối với Nguyễn Đứ c H là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ

thẩm tương ứ ng vớ i nghĩa vụ bồi thường cho ông H theo qui định pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi , nghĩa vụ

liên quan trong vu ̣ án có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

. Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận

định của Tòa án.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản”.

Về hinh pha ̣t chinh : Căn cứ khoản 3 Điều 175; Điểm s khoản 1, khoản 2

̀

́ Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo NGUYỄN DUY H 10 (Mườ i) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 10 năm 2021.

- Về hình phạt bổ sung: Không pha ̣t tiền bi ̣ cáo.

- Về phần dân sự : Buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Duy H có trách nhiê ̣m trả cho ông

Nguyễn Quang H số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triê ̣u đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu

cầu thi hành án, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ đối với khoản tiền chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp Quyết định thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về vâ ̣t chứ ng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015;

̀ Điểm a khoản 2 Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự 2015:

̀

+ Tịch thu vào ngân sách Nhà nước : 01 điện thoại di động nhãn hiệu

Samsung Galaxy A10s màu đen; Imei1: 352125115979; Imei2: 352126115805977, lắp sim số thuê bao 0363.941.534, thu giữ của bi ̣ cáo Nguyễn Duy H.

+ Tiếp tu ̣c ta ̣m giữ ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Đông Anh chờ xử

lý sau đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu đen, Imei1: 353317096270526; Imei2: 353318096270524; lắp sim số thuê bao 0826.477.914 thu giữ của Nguyễn Đức H.

(Tình trạng các vật chứng như trong Biên bản giao , nhâ ̣n vâ ̣t chứ ng giữa

Công an huyê ̣n Đông Anh và Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Đông Anh ngày 01 tháng 06 năm 2022).

- Về án phi: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điểm a

́ khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Danh mu ̣c án phi, lê ̣

́ phí Tòa án ba n hành kèm theo Nghi ̣ quyết : Buộc bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 20.000.000đ (Hai mươi triê ̣u đồng) án phí dân sự sơ thẩmvào ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015: Bị cáo Nguyễn Duy H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Ông Lê Văn Tha có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày

kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hợp lê ̣.

Ông Nguyễn Quang H có quyền kháng cáo về phần dân sự có liên quan

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hợp lê ̣.

̉

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM

Cỡ chữ