vanban.org

Bản án 92/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2021. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2021/HS-ST
Ngày 30-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thái

2. Bà Đinh Thị Thu Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quang Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2021/HSST-QĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hoàng T, sinh năm 1982 tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Xuân B, sinh năm 1954; con bà Hoàng Thị G, sinh năm 1954; vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1984 (đã ly hôn), con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 46/2017/HS-ST, ngày 15/8/2017 Trần Hoàng T bị Tòa án bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2019, chấp hành xong phần án phí và hình phạt bổ sung ngày 25/10/2017.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lương Trọng Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 15/6/2021, tại khu vực nhà ở của bị cáo Trần Hoàng T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng bắt quả tang bị cáo Trần Hoàng Tùng đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Lưu Trọng Q, sinh năm 1992 ở thôn T, xã T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Tang vật thu giữ gồm:

+ Thu tại túi quần trước bên phải của Lưu Trọng Q đang mặc: 01 túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có đốm chấm đen có khóa rãnh viền màu trắng, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

+ Thu tại túi quần phía sau bên phải của Trần Hoàng T đang mặc: 01 chiếc ví màu đen, bên trong có 1.000.000 đồng.

+ Thu giữ của T 01 chiếc điện thoại vỏ màu xanh, nhãn hiệu Realme.

+ Thu tại sườn khe núi phía sau giáp nhà ở của T: 01 hộp kim loại màu trắng xanh có chữ nước ngoài, bên trong đựng 06 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đựng 01 mảnh viên nén màu hồng đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu bên trong đựng 03 viên nén màu hồng đỏ ký hiệu WY; 03 túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có đốm chấm đen, trắng được khóa kín bằng rãnh nhựa, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng được hàn kín bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 05 vỏ túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có đốm trắng đen có rãnh khóa nhựa màu trắng; 02 đoạn vỏ ống nhựa màu xanh; 01 đoạn vỏ ống nhựa màu vàng; 01 đoạn vỏ ống nhựa màu tím; 01 chiếc tăm bông.

+ Thu trên mặt đất cách bờ tường tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng.

Đấu tranh khai thác nhanh, T khai nhận chất tinh thể màu trắng và các mảnh viên nén và viên nén màu hồng đỏ là ma túy do T mua của một người không biết tên, địa chỉ ở khu vực chợ thị trấn N (chợ Neo), Yên Dũng đem về bán kiếm lời.

Cùng ngày 15/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng ra quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang để giám định các chất thu giữ khi bắt quả tang. Tại bản Kết luận giám định số: 1010/KL-KTHS ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“5.1. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon một mặt màu trắng, một mặt có chấm đen, có rãnh khóa bằng nhựa màu trắng là ma túy, có khối lượng 0.033 gam, loại methamphetamin.

5.2. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KS” đã được niêm phong gửi giám định:

Trong 01 (một) hộp kim loại màu trắng, xanh có chữ nước ngoài:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) túi nilon đều có một mặt màu trắng, một mặt có chấm đen, có rãnh khóa bằng nhựa màu trắng là ma túy, có tổng khối khối lượng 0.572 gam, loại methamphetamin.

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng được hàn kín là ma túy, có khối lượng 0.249 gam, loại methamphetamin.

- 06 (sáu) mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 06 (sáu) đoạn ống nhựa màu xanh đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối khối lượng 0.310 gam, loại methamphetamin.

- 03 (ba) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối khối lượng 0.322 gam, loại methamphetamin”.

Tại cơ quan điều tra, Trần Hoàng T khai nhận:

Do bị nghiện ma túy từ nhiều năm nay và không có công ăn việc làm ổn định, nên Tùng đã nảy sinh ý định tìm mua ma túy đem về bán cho những người nghiện để kiếm lời. Biết ở khu vực chợ N có người bán ma túy, khoảng 16 giờ ngày 14/6/2021, Tùng từ nhà đến khu vực chợ thị trấn N tìm và mua được ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ: 06 đoạn ống nhựa màu xanh, trong mỗi đoạn chứa đựng 01 mảnh viên nén màu hồng đỏ là ma túy; 01 đoạn ống nhựa màu hồng, bên trong đựng 03 viên nén màu hồng đỏ là ma túy và 04 túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có chấm đen, có rãnh khóa nhựa bên trong đựng chất tinh thể màu trắng là ma túy hết 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà cất giấu vào trong 01 chiếc hộp kim loại màu xanh, trắng có chữ nước ngoài để bán. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 15/6/2021, khi T đang ở nhà thì thấy Lưu Trọng Q đi cùng Lương Văn H đến khu vực cổng nhà T. Biết Q đến tìm mua ma túy, nên T đi ra thì Q bảo bán cho Q 200.000 đồng ma túy, T cầm tiền và đưa cho Q một túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có chấm đen trong đựng ma túy. Ngay sau khi T thực hiện hành vi bán ma túy cho Q thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng phát hiện, T liền chạy vào trong nhà lấy hộp đựng ma túy và 200.000 đồng vừa bán ma túy ném ra ngoài cửa sổ phòng ngủ tầng 2 xuống vách núi phía sau nhà để phi tang nhưng không kịp tẩu tán tang vật. T và Q bị bắt quả tang và bị thu giữ toàn bộ tang vật.

Trong vụ án này: Đối với người đã bán ma túy cho T, T khai không biết tên và địa chỉ nêm Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với Lưu Trọng Q có hành vi mua ma túy mục đích để sử dụng, bản thân Q chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy Q tàng trữ chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 29/9/2021, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lưu Trọng Q.

Đối với Lương Văn H là người đi cùng Lưu Trọng Q, H khai không biết Q đi mua ma túy; Nông Thị B có mặt tại nhà T, B khai chỉ chung sống cùng nhà với T, B không biết T tàng trữ ma túy để bán, ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Số ma túy được hoàn lại sau giám định, số tiền 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động Realme màu xanh; 05 vỏ túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có đốm chấm đen có rãnh khóa nhựa màu trắng; 02 đoạn vỏ ống nhựa màu xanh; 01 đoạn vỏ ống nhựa màu vàng; 01 đoạn vỏ ống nhựa màu tím; 01 chiếc tăm bông được chuyển đến kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Hoàng T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSYD ngày 18/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2021. Phạt bổ sung bị cáo từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N và 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “KS” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N (Hoàn lại sau giám định).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động Realme màu xanh và số tiền 1.000.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 14/6/2021, bị cáo Trần Hoàng T có hành vi đi đến khu vực chợ thị trấn N, huyện Yên Dũng để tìm và mua được 04 túi ni lông trong đựng ma túy methamphetamin khối lượng 0,854 gam; 06 mảnh viên nén ma túy đựng trong 06 đoạn ống nhựa tổng khối lượng 0,310 gam loại methamphetamin và 03 viên nén ma túy đựng trong 01 đoạn ống nhựa có tổng khối lượng 0,322 gam loại methamphetamin đem về nhà cất giấu, mục đích để bán kiếm lời. Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 15/06/2021, T đang thực hiện hành vi bán 01 gói ma túy khối lượng 0,033 gam loại methamphetamin cho Lưa Trọng Q thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.

Tổng số ma túy Trần Hoàng T tàng trữ mục đích để bán là 1,486 gam ma túy loại methamphetamin. T đang bán 01 túi ni lông một mặt màu trắng, một mặt có chấm đen đựng ma túy loại methamphetamin có khối lượng là 0,033 gam cho Lưu Trọng Q ở khu vực cổng nhà thì bị bắt quả tang, số ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị thu giữ.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bên cạnh đó, nó còn là nguyên nhân và điều kiện phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Đối với loại tội phạm về ma túy Nhà nước ta đã và đang có những chế tài nghiêm khắc. Song, các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với các bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.

Về nhân thân: Bản án số 46/2017/HS-ST, ngày 15/8/2017 Trần Hoàng T bị Tòa án bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2019, chấp hành xong phần án phí và hình phạt bổ sung ngày 25/10/2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; năm 2014 bị cáo T được Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng tặng Giấy khen; bị cáo T có bố đẻ là ông Trần Xuân B là bệnh binh và đã có thời gian phục vụ trong quân đội nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét thấy, bị cáo T là người có nhân thân xấu, bị cáo T đã bị Tòa án xét xử về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo T đã có thời gian cải tạo tại Trại giam. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục nên cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Như vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện VKSND huyện đã phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, cần phạt tiền các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS để tước một phần kinh tế của bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329- BLTTHS.

Đối với Lưu Trọng Q có hành vi mua ma túy mục đích để sử dụng, bản thân Q chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi liên quan đến ma túy, khối lượng ma túy Q tàng trữ chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 29/9/2021, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lưu Trọng Q.

Đối với Lương Văn H là người đi cùng Lưu Trọng Q, H khai không biết Q đi mua ma túy; Nông Thị B có mặt tại nhà T, B khai chỉ chung sống cùng nhà với T, B không biết T tàng trữ ma túy để bán, ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N và 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “KS” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N (Hoàn lại sau giám định) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

Đối với số tiền 200.000 đồng (nằm trong 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “KS” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N- Hoàn lại sau giám định) thu giữ tại nhà bị cáo T là số tiền bị cáo bán ma túy cho Quang mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

Đối với 01 điện thoại di động Realme màu xanh và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng).

Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

3. Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2021. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn Nham Biền và 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “KS” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn Nham Biền (Hoàn lại sau giám định).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (nằm trong 01 phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước đề ký hiệu “KS” được niêm phong bằng dấu mực đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, chữ ký giáp lai của các thành viên tham gia niêm phong và dấu tròn mực đỏ của Công an Thị trấn N- Hoàn lại sau giám định). Trả lại cho bị cáo Tùng 01 điện thoại di động Realme màu xanh và số tiền 1.000.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hoàng T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Hướng dẫn thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành, nếu bị cáo không nộp số tiền phạt nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ