vanban.org

Bản án 92/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2021. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2021/HS-ST
Ngày 29-6-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu

Bà Lê Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia

phiên tòa: Ông Chu Đức Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2021/TLST-HS ngày 28/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HS ngày 04/6/2021 đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh năm 1991; HKTT: Xóm B, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T, sinh năm 1964 và con bà Hà Thị Q, sinh năm 1963; Có vợ Bàn Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012. Tiền sự: Không

Tiền án có 02:

+ Tại Bản án số 27/2017/HSST ngày 08/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ra trại ngày 25/5/2018, chấp hành xong án phí và truy thu.

+ Tại Bản án số 115/2018/HSST ngày 26/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ra trại ngày 23/7/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2021 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh - Có mặt.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 ngày 24/02/2021, tại tỉnh lộ 295B thuộc địa phận thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra kiểm soát giao thông Công an huyện Tiên Du kiểm tra hành chính bắt quả tang Hà Văn T đang cất giấu trong lòng bàn tay phải 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong có chất bột mầu trắng. T khai là ma túy vừa được người đi nhờ xe máy cho để sử dụng, cơ quan Công an đã niêm phong trong phong bì thư theo quy định. Ngoài ra khi bắt quả tang, Công an còn thu giữ của T 01 xe máy Honda Wave mầu đỏ - đen BKS: 26P1 – 020.14; 01 điện thoại di động Nokia105 mầu xanh kèm theo simcard và 20.000 đồng.

Ngày 24/02/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh, giám định 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong chứa chất bột mầu trắng đã thu giữ của T.Tại bản kết luận giám định số 229/KLGĐ – PC09 ngày 26/02/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: “Chất bột mầu trắng bên trong gói giấy bạc mầu trắng có khối lượng 0,1107 gam, là ma túy, loại ma túy Heroin”.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 54/CT - VKS ngày 25/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 5/2018. Sáng ngày 24/02/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Wave mầu đỏ - đen BKS: 26P1 - 020.14 chở chị Lò Thị L đến công ty làm việc. Sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô trên ra khu vực phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, do chỉ có 45.000 đồng không đủ tiền để mua ma túy nên bị cáo đi loanh quanh tìm đối tượng nghiện góp tiền mua ma túy sử dụng chung. Lúc này, bị cáo gặp Lương Viết C đang đứng cùng một thanh niên không quen biết ở gần đó. Bị cáo rủ C và người thanh niên cùng góp tiền mua ma túy. C nói với bị cáo là không có tiền còn người thanh niên đồng ý nên bị cáo đưa cho người thanh niên 45.000 đồng. Người thanh niên cầm tiền của bị cáo đi vào trong ngõ khu dân cư gần đó một lúc sau quay ra bảo không mua được, đồng thời nói với bị cáo là còn một ít ma túy nếu chở đến khu vực huyện Tiên Du người này sẽ cho số ma túy để trả công. Bị cáo đồng ý, lúc này C cũng đến nói với bị cáo cho đi nhờ. Sau đó, bị cáo điều khiển xe chở C ngồi giữa, người thanh niên lạ mặt ngồi sau cùng đi theo đường tỉnh lộ 295B về huyện Tiên Du. Trên đường đi, có người ngồi sau đưa cho bị cáo 01 gói ma túy và nói “đây này” nên bị cáo đưa tay phải sang bên trái cầm lấy gói ma túy rồi kẹp giữa tay ga với lòng bàn tay phải của mình. Khi đi đến địa phận thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. Người thanh niên lạ mặt ngồi phía sau cùng lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy thoát. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 54/CT- VKS ngày 25/5/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2021.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật ma túy sau giám định;

- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 mầu xanh – đen có thẻ sim và 20.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du, thừa nhận có tội, không tranh luận.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/02/2021, tại tỉnh lộ 295B thuộc địa phận thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra kiểm soát Công an huyện Tiên Du bắt quả tang Hà Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1107 gam Heroin để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại Bản án số 115/2018/HSST ngày 26/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xác định bị cáo “Tái phạm”. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới ngày 24/02/2021 chưa được xóa án tích nên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác.... Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu và là đối tượng sử dụng trái phép ma túy. Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nhưng từ chối hưởng trợ giúp pháp lý. Ngày 08/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 26/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 24/02/2021 chưa được xóa án tích nên xác định là tiền án. Tuy nhiên tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” đã áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 mầu xanh – đen có thẻ sim và 20.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 xe mô tô Honda Wave mầu đỏ - đen BKS: 26P1 – 020.14, đăng ký xe mang tên ông Lò Văn Q là bố đẻ chị L. Khoảng tháng 6/2020, ông Quyết đã cho chị L làm phương tiện đi làm. Ngày 24/02/2021, bị cáo T sử dụng xe đi mua ma túy chị L không biết. Ngày 06/3/2021, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Lò Thị L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen BKS: 29P1 – 020.14, sau khi nhận lại xe chị L không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra bị cáo T khai nhận ngày 23/02/2021 có sử dụng ma túy nhưng không nhớ địa điểm cụ thể nên khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với Lương Viết C, quá trình điều tra khai nhận: C không quen biết người thanh niên đi cùng xe của T và trước khi lên xe đi C có nghe người thanh niên nói sẽ trả công cho bị cáo T bằng ma túy, sau đó trên đường đi người thanh niên này đã đưa gói ma túy cho bị cáo T. Tuy nhiên, bị cáo T khai khi điều khiển xe trên đường không biết ai ngồi phía sau đã đưa cho bị cáo T gói ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa bị cáo T và C nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai trong khi người thanh niên lạ mặt đã bỏ chạy thoát nên chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với chị L cho bị cáo T mượn xe nhưng không biết bị cáo T sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị L là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2021.

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật ma túy sau giám định được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dáu niêm phong và chữ ký của giám định viên phòng PC09 - Công an tỉnh Bắc Ninh;

- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 mầu xanh – đen có thẻ sim và 20.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2021)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ