vanban.org

Bản án 92/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Phạm Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Phạm Thị V 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 23 tháng 8 năm 2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phạm Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92 /2021/HS-ST
Ngày 28-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lê Văn Lợi

2. Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh

-Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84 /2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HS ngày 14/12/2021, đối với bị cáo;

Phạm Thị V sinh năm 1974; nơi sinh và HKTT: Số 03/353 Lê Thánh T, phường S, thành phố H, tỉnh H; nơi cư trú hiện nay: 26 Dã T, phường S, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ng (đã chết) và bà Lê Thị Nh (đã chết); Chồng: Đỗ Đức Th (đã chết); con có 2 con: Lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Án tích tại bản án số 224/2013/HSST ngày 22/8/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã được xóa; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/8/2021; tạm giam từ ngày 01/9/2021; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/8/2021, Phạm Thị V ở phường S, thành phố H đi cùng với Phạm Văn G sinh năm 1984 ở thôn T, xã Đ, huyện X, tỉnh H, do G điều khiển bằng xe môtô BKS 36 B7-21794 mà V mượn của anh Nguyễn Xuân Ph sinh năm 1987 ở đường Lê Thánh T, phường S, thành phố H chở đi tìm nhà nghỉ. Đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn 5, xã T, huyện X, tỉnh H thì lực lượng Công an huyện Quảng Xương bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm 01 vỏ bao lì xì màu đỏ, bên trong có 01 túi ni lông chứa 20 viên nén màu xám kích thước khoảng (1x1) cm và 03 túi ni lông màu trắng bên trong chứ chất rắn dạng tinh thể (V khai là ma túy) tại vị trí yên xe môtô, ở giữa chỗ ngồi của V và G (được ký hiệu M) và chiếc xe mô tô BKS 36B7-21794.

Sau khi bị bắt Phạm Thị V khai nhận, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2021, V một mình đi bộ từ nhà đến khu vực bờ sông Nhà Lê thuộc phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa tìm mua ma túy về để sử dụng dần. V đã mua của một người đàn ông không quen biết không rõ tên và địa chỉ 20 viên ma túy dạng thuốc lắc MDMA và 03 túi ma túy đá dạng ketamin đựng trong túi nilong màu trắng trong suốt với giá 10.000.000đ rồi đem về cất dấu. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì G bạn tình của V đến nhà chơi và rủ nhau đi nhà nghỉ ở Quảng Xương để tâm sự, khi đi thì V cất giấu số ma túy mua được vào một vỏ bao lì xì màu đỏ và cầm theo người, V không cho G biết V có ma túy trong người.

Tại bản kết luận giám định số 2724/PC09, ngày 27/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

- 20 (hai không) viên nén màu xám đều có kích thước khoảng (1x1) cm của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 9,978g (chín phẩy chín bảy tám gam) loại: MDMA.

- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,138g (năm phẩy một ba tám gam) loại Ketamine.

Phạm Văn G, là người điều khiển xe mô tô chở V, việc V mang theo ma túy trong người G không biết, Giáp cũng không tham gia mua ma túy với V nên cơ quan điều tra không đủ xử lý với Giáp.

Người bán ma túy cho V do V không biết tên tuổi, địa chỉ cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý.

Chiếc xe môtô BKS 36 B7-21794 là xe của anh Nguyễn Xuân Ph (là cháu của V) cho V mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc V cất giấu ma túy trong người và bảo G chở đi tìm nhà nghỉ thì anh Ph không biết nên Cơ quan điều đã trả lại cho anh Ph.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 01/CT-VKSQX, ngày 22/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Thị V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Phạm Thị V từ 6 năm 6 tháng tù đến 7 năm tù.

Đối với vật chứng thu giữ còn lại sau giám định xác định: 18 (một tám) viên nén màu xám đều có kích thước khoảng (1x1) cm có tổng khối lượng 8,973g; 4,768g chất rắn màu trắng dạng tinh thể là vật còn lại sau giám định ma túy loại MDMA và Ketamine là hàng hóa nhà nước cấm lưu hành và 01 vỏ bao lì xì màu đỏ không có giá trị thu giữ của Phạm Thị Vân cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận tội và không tranh luận, bị cáo biết mình sai xin HĐXX cho mức án thấp nhất sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Hành vi của bị cáo vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2021, V một mình đi bộ từ nhà đến khu vực bờ sông Nhà Lê thuộc phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa tìm mua ma túy về để sử dụng dần. V đã mua của một người đàn ông không quen biết không rõ tên và địa chỉ 20 viên ma túy dạng thuốc lắc MDMA và 03 túi ma túy đá dạng ketamin đựng trong túi nilong màu trắng trong suốt với giá 10.000.000đ rồi đem về cất dấu. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì G bạn tình của V đến nhà chơi và rủ nhau đi nhà nghỉ ở Quảng Xương để tâm sự. Khi đi thì V cất giấu số ma túy mua được vào một vỏ bao lì xì màu đỏ và cầm theo người, V không cho Giáp biết V có ma túy trong người. G điều khiển bằng xe môtô BKS 36 B7-21794 mà V mượn của anh Nguyễn Xuân Ph chở V đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn 5, xã Tiên Trang, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa thì lực lượng Công an huyện Quảng Xương bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm có tổng khối lượng là 9,978g loại MDMA và 5,138g loại Ketamine.

Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Như vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ và mục đích của bị cáo: Mua ma túy về để sử dụng.

Về tình tiết tăng nặng và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; nhân thân không có tiền án, tiền sự, án tích bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa án).

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; hiện bị cáo có con nhỏ đang học lớp 9 không có người nuôi dưỡng, nhà cửa không có phải ở thuê, chồng chết, con lớn thì ly hôn cũng không có nơi ăn chốn ở được UBND xác nhận là đúng sự thực; theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt tù bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người tốt.

Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo hình phạt bổ sung là phạt tiền vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Phạm Văn G, là người điều khiển xe mô tô chở Vân, việc V mang theo ma túy trong người G không biết, G cũng không tham gia mua ma túy với V nên cơ quan điều tra không đủ xử lý với G theo hồ sơ vụ án là phù hợp.

Người bán ma túy cho V do V không biết tên tuổi, địa chỉ cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý theo hồ sơ vụ án là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng Cơ quan quan điều tra đã thu giữ xử lý như sau:

Ngày 08/10/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe môtô BKS 36 B7-21794 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Xuân Ph, anh Ph đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm, theo hồ sơ vụ án là phù hợp.

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và18 (một tám) viên nén màu xám đều có kích thước khoảng (1x1) cm có tổng khối lượng 8,973g; 4,768g chất rắn màu trắng dạng tinh thể là vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Trần Đức Thanh, Nguyễn Quang Huy và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ bao lì xì màu đỏ không có giá trị thu giữ của Phạm Thị Vân thì bị tịch thu tiêu hủy.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/12/2021.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Phạm Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Phạm Thị V 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 23 tháng 8 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 18 (một tám) viên nén màu xám đều có kích thước khoảng (1x1) cm có tổng khối lượng 8,973g; 4,768g chất rắn màu trắng dạng tinh thể là vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Trần Đức Thanh, Nguyễn Quang Huy và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 vỏ bao lì xì màu đỏ.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/12/2021.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo: Phạm Thị V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28 tháng 12 năm 2021).

Cỡ chữ