vanban.org

Bản án 92/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Vàng A T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2021/HS-ST
Ngày 28/9/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Ngọc Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vì Đình Yêu và bà Đinh Thị Minh Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngoãn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Luyến, Kiểm sát viên.

Ngày 28/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2021/TLST-HS ngày 10/9/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2021/QĐXXST-HS ngày 17/9/2021 đối với bị cáo Vàng A T, sinh ngày 10/02/1987 tại xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Cư trú tại bản SN, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vàng A G, sinh năm 1959 và bà Sồng Thị D, sinh năm 1960, vợ là Mùa Thị D, sinh năm 1990, bị cáo có 05 con, đều cư trú tại bản SN, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Sử dụng ma túy từ năm 2020 đến nay; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2021 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mùa Thị D, sinh năm 1990, cư trú tại bản SN, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, vắng mặt có lý do.

Người phiên dịch: Ông Mùa A Sáy, cán bộ Phòng Văn hóa huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/7/2021 Vàng A T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26D1-212.36 từ nhà đến bản SK, xã ST, huyện Phù Yên để sát thóc, sau khi sát xong trên đường về thì gặp 01 người phụ nữ dân tộc Mông đi ngược chiều, T dừng xe lại hỏi người phụ nữ đó có ma túy bán không thì người đó trả lời chỉ có một ít để sử dụng, do T đòi mua nên người phụ nữ đó đồng ý bán cho T với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), T đưa tiền và nhận 01 gói ma túy với người phụ nữ đó rồi điều khiển xe về thì bị tổ công tác của Công an huyện Phù Yên kiểm tra, phát hiện, thu giữ trên tay của T 01 gói ma túy, 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu DETECH màu đen, biển kiểm soát 26D1-212.36.

Ngày 15/7/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cùng sự có mặt của Vàng A T và người làm chứng mở niêm phong, cân tịnh 01 gói chất bột màu trắng có khối lượng là 0,111gam và lấy toàn bộ 0,111 gam chất bột màu trắng, kí hiệu T1 gửi giám định.

Kết luận giám định số 1291 ngày 17/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu T1 = 0,111 gam là ma túy, loại Heroine. Toàn bộ mẫu gửi giám định 0,111gam Heroine đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 10/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị can Vàng A T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/7/2021 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26D1-212.36 từ nhà ở bản SN, xã QH, huyện Phù Yên đến bản SK, xã ST, huyện Phù Yên để sát thóc, sau khi sát xong trên đường về nhà thì gặp 01 người phụ nữ và 01 cháu nhỏ dân tộc Mông không biết họ tên, địa chỉ đang dắt ngựa đi ngược chiều, T dừng xe lại hỏi mua ma túy thì người phụ nữ đó trả lời có một ít để sử dụng thôi, do T đòi mua nên người phụ nữ đó đồng ý bán với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), T đưa tiền và nhận 01 gói ma túy, trên đường về nhà thì bị tổ công tác của Công an huyện Phù Yên kiểm tra, phát hiện, thu giữ trên tay của T 01 gói chất bột màu trắng, 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu DETECH màu đen, biển kiểm soát 26D1-212.36.

Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của chị Mùa Thị D trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26D1-212.36 bị cáo đem đi sát thóc trên đường về đã mua ma túy là tài sản chung của cả gia đình tích cóp từ nguồn tiền lao động sản xuất mua được, việc bị cáo mua ma túy với ai chị hoàn toàn không biết, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả cho chị để làm phương tiện phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày Luận tội, giữ nguyên Quyết định như Cáo trạng đã truy tố đối với bị can Vàng A T và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vàng A T từ 21 đến 24 tháng tù, tính từ ngày bị bắt (14/7/2021). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 lá cây khô gói chất ma túy, 01 chiếc phong bì niêm phong vật chứng;

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết mẫu gửi giám định 0,111gam chất ma túy, loại Heroine trong quá trình giám định;

Trả lại cho chị Mùa Thị D 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu DETECH màu đen, biển kiểm soát 26D1-212.36, số máy VDEJQ152FMJ 009922, số khung EXCE9PEGA009922.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn toàn bộ theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Bị cáo tranh luận tại phiên tòa, nhất trí với Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, cả về thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng của vụ án thu được.

. Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bán ma túy cho bị cáo, do không biết họ tên, địa chỉ nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên không thực hiện xác minh, điều tra để xử lý trong vụ án.

Với những tài liệu, chứng cứ nêu trên, đủ cơ sở khách quan để kết luận: Bị cáo Vàng A T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là đối tượng đã sử dụng chất ma túy từ năm 2020 đến nay, nhận thức rõ hành vi mua chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, do nghiện ma túy đã mua với mục đích để sử dụng, khối lượng chất ma túy ít, ngoài mục đích để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về nhân thân của bị cáo: Đã sử dụng chất ma túy từ năm 2020 đến nay chưa bị áp dụng giáo dục tại xã nơi bị cáo cư trú.

Xét thấy, tình hình tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện Phù Yên vẫn diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ, mặc dù đã được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương tuyên truyền, vận động nói không với ma tuý, nhưng thực tế vẫn chưa có chuyển biến tích cực, tiềm ẩn phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm từ các hành vi Tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy. Để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm, cần xử lý nghiêm, kịp thời đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Quá trình xác minh điều kiện kinh tế gia đình bị cáo là hộ nghèo theo Giấy chứng nhận hộ nghèo số 62/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 của UBND xã QH, huyện Phù Yên. Do đó, không áp dụng đối với bị cáo.

.Về biện pháp ngăn chặn: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, thường vắng mặt tại nơi cư trú không có lý do. Để đảm bảo công tác thi hành án hình sự, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

.Về vật chứng vụ án, cần: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 lá cây khô gói chất ma túy; 02 chiếc phong bì niêm phong vật chứng (trong đó 01 chiếc niêm phong ma túy khi bắt quả tang, 01 chiếc niêm phong toàn bộ vật chứng của vụ án);

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết mẫu gửi giám định 0,111gam chất ma túy, loại Heroine trong quá trình giám định.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH màu đen, biển kiểm soát 26D1-212.36 bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra, xác minh đã xác định chị Mùa Thị D vợ của bị cáo là đồng sở hữu chung tài sản, việc bị cáo mua ma túy chị D hoàn toàn không biết, lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của chị D tại phiên tòa. Lẽ ra cần tịch thu một phần giá trị tài sản chung của bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy chiếc xe đã cũ, trị giá xe không lớn, đồng thời chiếc xe là phương tiện duy nhất của cả gia đình. Do đó, cần trả lại cho vợ của bị cáo là chị Mùa Thị D theo quy định.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Qua xác minh gia đình bị cáo là hộ nghèo năm 2021, thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Do đó, cần miễn án phí đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 329, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

2. Tuyên bố bị cáo Vàng A T, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Vàng A T 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (14/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 lá cây khô gói chất ma túy; 02 chiếc phong bì niêm phong vật chứng vụ án;

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết mẫu gửi giám định 0,111gam chất ma túy, loại Heroine trong quá trình giám định;

Trả lại cho chị Mùa Thị D 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu DETECH màu đen, biển kiểm soát 26D1-212.36, số máy VDEJQ152FMJ 009922, số khung EXCE9PEGA009922.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ đối với bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ