- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Giàng A P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2020/HSST Ngày 30/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Giàng A P, sinh ngày 12/3/1998 tại huyện P, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mông; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam;
́ con ông Giàng A L – Sinh năm 1962 và bà Phàng Thị S – Sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Mùa Thị D – Sinh năm 1999, bị cáo có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 11/06/2020 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ 05 phút ngày 11/6/2020, tổ công tác Đồn biên phòng Chiềng Sơn phối hợp với Phòng phòng chống tội phạm ma túy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Hương Sơn, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Sồng A P đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Giàng A P đang cất giấu trong túi áo ngực bên trái 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. P khai nhận là ma túy của P, mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Sồng A P, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Sồng A P về trụ sở để điều tra, làm rõ.
Ngày 11/06/2020, Đồn biên phòng Chiềng Sơn đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cùng ngày, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã Quyết định chuyển vụ án hình sự đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 11/06/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Giàng A P có khối lượng 0,54 gam. Lấy 0,21 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu P. Mẫu P được phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy và khối lượng.
Tại kết luận giám định số 970 ngày 15/6/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,54 gam; loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra Giàng A P khai nhận. Khoảng 21 giờ ngày 10/6/2020 P đi bộ từ nhà ở Bản N, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La đến bản A Má, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La để làm thuê. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày P đến khu vực ngã ba, thuộc bản Dân Quân, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thì gặp và hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết, P hỏi mua được của người đó 05 viên hồng phiến gói trong nilon màu hồng với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P đã cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi tiếp tục đi ra bản Hương Sơn, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu. Trên đường đi bị tổ công tác Đồn biên Phòng chiềng Sơn, kiểm tra, bắt quả tang.
Cáo trạng số: 94/CT-VKS ngày 14/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Giàng A P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A P từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Giàng A P, bắt ngày 11/6/2020, bên trong đựng 0,33 gam Methamphetamine cùng gói nilon màu hồng và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi tets thử ma túy của Giàng A P, ngày 11/6/2020, kết quả: Dương tính.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự viê ̣c.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 10/6/2020 Giàng A P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,54 gam Methamphetamine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,54 gam Menthamphetamine là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và túi nilon màu trắng, mảnh nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A P. Xét là đồ vật liên quan, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Giàng A P. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Giàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Giàng A P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Giàng A P, bắt ngày 11/6/2020, bên trong đựng 0,33 gam Methamphetamine cùng túi nilon màu hông và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi tets thử ma túy của Giàng A P, ngày 11/6/2020, kq: Dương tính.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Giàng A P phải chi ̣u án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Quang |