- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Đ mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 92/2020/HS-ST Ngày: 07/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tạo
2. Bà Nguyễn Kim Lê
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2020/HSST ngày 31/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2020/QĐXXST-HS ngày 23/4/2020 đối với bị cáo:
Phạm Minh Đ , sinh 23/7/2001; Tại Hà Nội; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT: Số 1 ngõ H , phố N , phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Nơi ở: không cố định; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình P và bà Đinh Thị Lan P ; Tiền sự: không; Tiền án: không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/12/2019; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2019 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23h05' ngày 18/12/2019, Tổ công tác công an phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy làm nhiệm vụ tại trước số nhà 150 Hoàng N , phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện Phạm Minh Đ có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của Đ : 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 05 (năm) viên nén màu xanh. Tại chỗ, Đ khai nhận đó là ma túy đem đi bán để kiểm lời. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật rồi đưa Đ về trụ sở để làm rõ sự việc. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, sim số 0928288551.
Kết luận giám định số 8240/KLGĐ-PC09 ngày 25/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,887 gam; 05 viên nén màu xanh bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 2,565 gam.
Tại cơ quan công an, Phạm Minh Đ khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên Đ đã nảy sinh ý định bán ma túy để kiếm lời. Khoảng 18h00’ ngày 18/12/2019, Đ nhận được điện thoại một người có số điện thoại 086274 gọi vào số điện thoại 09282 của Đ hỏi mua 05 (năm) viên ma túy “kẹo” và nửa chỉ Ketamine. Đ báo giá 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Người mua đồng ý và hẹn đến địa chỉ 150 Hoàng N , Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội để giao dịch mua bán. Sau đó, Đ đi taxi đến khu Yên X – Hà Đông để mua ma túy. Tại đây, Đ gọi điện cho đối tượng C có sử dụng số điện thoại 0888681 và mua được của C 05 (năm) viên ma túy “kẹo” và nửa chỉ Ketamine với giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ cất vào túi quần bên trái phía trước rồi bắt taxi về ngõ 150 Hoàng N . Đến khoảng 23h05’ cùng ngày, khi Đ đang đi bộ đến số 150 Hoàng N thì bị lực lượng Công an kiểm tra và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Xét nghiệm nước tiểu của Phạm Minh Đ cho kết quả âm tính với ma túy.
Lời khai của Phạm Minh Đ phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Đ có sử dụng số điện thoại 0888681 , đối tượng mua ma túy của Đ có số điện thoại 0862740 , Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được thông tin của chủ thuê bao, mặt khác do Đ không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, sim số 0928288 thu giữ của Phạm Minh Đ xác định Đ dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại bản cáo trạng số 84/CT- VKS ngày 19/3/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Phạm Minh Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã nêu; sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Phạm Minh Đ từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Miễn phạt tiền cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen kèm sim là phương tiện bị cáo Đ liên lạc mua bán ma túy;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ, đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23h05’ ngày 18/12/2019, tại trước số 150 Hoàng N , phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Phạm Minh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,887 gam Ketamine và 2,565 gam MDMA mục đích để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Tổ công tác công an phường Trung Hòa, Cầu Giấy bắt giữ cùng tang vật.
Hành vi của Phạm Minh Đ đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; Ma túy là chất gây nghiện hủy hoại nghiêm trọng sức khỏe của người nghiện, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người mắc nghiện. Ma túy còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Vì những tác hại của ma túy mà Nhà nước ta và nhiều quốc gia trên thế giới kiên quyết loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với tội phạm về ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ ràng về tác hại của việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bán ma túy để kiếm lời. Với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ và hình phạt bổ sung: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét việc bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,887 gam ma túy loại Ketamine và 2,565 gam ma túy loại MDMA; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen kèm sim là phương tiện bị cáo Đức liên lạc mua bán ma túy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Đ 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Phạm Minh Đ và chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H , bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,887 gam và 01 túi nilon chứa 05 viên nén màu xanh là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 2,565 gam (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 122/GN/THA-CA ngày 26/3/2020 giữa Công an quận Cầu Giấy và Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen, bên trong có sim (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 122/GN/THA-CA ngày 26/3/2020 giữa Công an quận Cầu Giấy và Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: 1.VKSND quận Cầu Giấy; 2. TAND Tp Hà Nội; 3. VKSND Tp Hà Nội; 4. Bị cáo; 5. Công an quận Cầu Giấy; 6. Chi cục THADS quận Cầu Giấy; 7. Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |