- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mạc Văn B phạm các tội: Mua bán trái phép chất ma túy và tội: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2020/HS-ST Ngày 29-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hợp;
Bà Lăng Thị Diện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Sơn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Mạc Văn B; tên gọi khác: Không, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1965, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 1/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn S (đã chết) và bà Mạc Thị H; có vợ: Đặng Thị M, sinh năm 1965; có 03 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/5/1988 bị Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt 03 năm tù về tội gián điệp và 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 05 năm tù (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2020 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn L1, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn D. sinh năm 1980. Vắng mặt;
2. Anh Nông Văn N, sinh năm 1992. Vắng mặt;
3. Anh Lăng Văn Q, sinh năm 1975. Vắng mặt;
4. Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1982. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 phút, ngày 26/6/2020, Tổ công tác Đồn Biên phòng N trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại địa bàn thuộc khu vực thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện một người nam giới khoảng 30 tuổi đi vào nhà Mạc Văn B có nhiều biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác đã đến kiểm tra hành chính, khi phát hiện thấy lực lượng Biên phòng thì có một người đang ngồi ở ghế, vị trí bàn uống nước trong phòng khách nhà Mạc Văn B vùng dậy bỏ chạy. Tổ công tác nhanh chóng khống chế được và yêu cầu mọi người có mặt trong nhà Mạc Văn B giữ nguyên vị trí, đối tượng định bỏ chạy khai họ tên là Hoàng Văn C, do nghiện ma túy nên đến nhà Mạc Văn B mua ma túy để sử dụng, lần lượt những người có mặt tại nhà Mạc Văn B khai họ tên: Lăng Văn Q, Hoàng Đức T, Mạc Văn B, Tổ công tác yêu cầu Mạc Văn B tự bỏ những đồ vật tài sản trên người ra để kiểm tra, Mạc Văn B lấy từ trong túi quần bên trái đang mạc trên người ra đặt trên bàn uống nước 01 túi nilon màu đỏ có in chữ nước ngoài, kiểm tra phát hiện bên trong túi nilon màu đỏ có chứa 03 gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy. Tổ công tác đã đưa Mạc Văn B cùng tang vật về Đồn Biên phòng N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 30 phút ngày 26/6/2020.
Mạc Văn B khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 25/6/2020 Mạc Văn B gọi điện cho một người tên là L2 khoảng 30 tuổi nhà ở thôn T để mua ma túy Heroine. Theo như thỏa thuận, khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày Mạc Văn B gặp L2 tại thị trấn N và mua 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng rồi quay về nhà. Khi về đến nhà Mạc Văn B bỏ ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại cất trong túi quần đang mặc trên người, đến khoảng 08 giờ ngày 26/6/2020, Mạc Văn B lấy gói ma túy cất ở trong túi quần ra xẻ lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong, Mạc Văn B cắt các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, chia nhỏ ma túy ra gói lại được 06 gói ma túy, trong đó có 01 gói ít hơn được gói bằng giấy màu trắng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, có Lăng Văn Q nghiện chất ma túy đến nhà chơi, Mạc Văn B lấy gói ma túy ít hơn mở ra cùng Lăng Văn Q sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong Lăng Văn Q ngồi chơi. Khoảng 12 giờ 30 ngày 26/6/2020, Mạc Văn B bán cho Hoàng Văn D 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, có Nông Văn N đi cùng, khi mua được ma túy Hoàng Văn D lấy gói ma túy ra cùng Nông Văn N sử dụng ở trong nhà, bằng hình thức hít, sử dụng xong Hoàng Văn D, Nông Văn N ngồi chơi; khoảng 05 phút sau, có Hoàng Văn C đến mua ma túy, Mạc Văn B bán cho Hoàng Văn C 01 gói với giá 100.000 đồng, Hoàng Văn C nhận lấy gói ma túy đem ra chỗ Hoàng Văn D và Nông Văn N ngồi sử dụng bằng hình thức hít. Hoàng Văn D và Nông Văn N đi ra khỏi nhà khoảng 03 phút sau có Hoàng Đức T đến nhà Mạc Văn B gọi Lăng Văn Q và Hoàng Văn C đi bốc gỗ, thì có cán bộ Đồn Biên phòng N đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 03 gói giấy màu trắng dòng kẻ ngang, bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong 01 phong bì; số tiền 200.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì; 01 điện thoại nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng, có lắp 02 sim Viettel.
Tại bản kết luận giám định số: 202/KL-PC09, ngày 27/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,114 gam (đã trừ bì).
Tại Kết luận giám định số 253/KLGĐ-PC09 ngày 17/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm: 200.000 đồng, trong gói niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 12/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Mạc Văn B ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Mạc Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Mạc Văn B, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Mạc Văn B phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Mạc Văn B tội mua bán trái phép chất ma túy mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Tổng hợp hình phạt chung từ 15 năm đến 16 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì, là người nghiện. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; tịch thu hóa giá 01 điện thoại nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, sung ngân sách Nhà nước; tịch thu số tiền 200.000 đồng là tiền do bán ma túy mà có, sung ngân sách Nhà nước; trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Mạc Văn B.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, về nhân thân bị cáo có tiền án đã được xóa án tích, bị cáo cư trú ở xã vùng sâu, vùng xa, xã biên giới dân trí thấp, trình độ văn hóa lớp 1/10, nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo tội mua bán trái phép chất ma túy 07 năm tù và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy 07 năm tù, tổng hợp hình phạt chung 14 năm tù, thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Mạc Văn B thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến tranh luận với người bào chữa, năm 1988 bị cáo có tiền án là người có nhân thân xấu, mức hình phạt phải trên mức khởi điểm. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo Mạc Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người làm chứng và tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ ngày 25/6/2020 Mạc Văn B gọi điện cho một người tên là L2 khoảng 30 tuổi nhà ở thôn T để hỏi mua ma túy Heroine, đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày Mạc Văn B đi xe mô tô đến gặp L2 mua 700.000 đồng được một gói ma túy, mục đích để sử dụng và bán để kiến lời, cụ thể: Khoảng 08 giờ ngày 26/6/2020, bị cáo Mạc Văn B lấy gói ma túy cất ở trong túi quần ra xẻ lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong bị cáo Mạc Văn B cắt các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, chia nhỏ ma túy ra gói lại được 06 gói ma túy, trong đó có 01 gói ít hơn được gói bằng giấy màu trắng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, có Lăng Văn Q nghiện chất ma túy đến nhà chơi, bị cáo Mạc Văn B lấy gói ma túy ít hơn mở ra cùng Lăng Văn Q sử dụng bằng hình thức hít tại ở nhà của bị cáo; khoảng 12 giờ 30 ngày 26/6/2020, bị cáo Mạc Văn B bán cho Hoàng Văn D 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, có anh Nông Văn N đi cùng Hoàng Văn D, khi mua được ma túy Hoàng Văn D hỏi bị cáo Mạc Văn B cho sử dụng ở trong nhà, Hoàng Văn D lấy gói ma túy ra cùng Nông Văn N sử dụng ở trong nhà bị cáo bằng hình thức hít; khoảng 05 phút sau, bị cáo bán cho Hoàng Văn C 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, Hoàng Văn C nhận lấy gói ma túy đem ra chỗ Hoàng Văn D, Nông Văn N đang ngồi mở ra sử dụng bằng hình thức hít, Hoàng Văn D, Nông Văn N nhìn thấy Hoàng Văn C sử dụng ma túy trong nhà ở của bị cáo Mạc Văn B và bị cáo cũng nhìn thấy không nói gì. Do đó, có căn cứ để khẳng định bị cáo Mạc Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Mạc Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có ma túy để sử dụng, nên bị cáo đã cố ý thực hiện.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.
Về nhân thân: Tiền án theo bản án số 396 ngày 19/5/1988 bị Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt 03 năm tù về tội gián điệp và 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 05 năm tù (đã được xóa án tích), nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu; tiền sự không. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ, là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” và khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng (thể hiện tại kết quả xác minh ngày 09/7/2020). Tuy bị cáo có đứng tên giấy chứng nhận quền sử dụng đất, nhưng là tài sản chung của cả gia đình và đất ở nông thôn giá trị thấp Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.
Đối với người đàn ông tên L2 khoảng 30 tuổi ở thôn T bán ma túy cho bị cáo Mạc Văn B tại thị trấn N (không biết họ và địa chỉ cụ thể), nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh, làm rõ được.
Đối với số điện thoại 0328.428.***. Cơ quan điều tra đề nghị Tập đoàn viễn thông quân đội xác định chủ thuê bao số điện thoại trên. Khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa những người làm chứng anh Lăng Văn Q, anh Hoàng Văn D, Nông Văn N, anh Hoàng Văn C, là người nghiện đều vắng mặt, nhưng trong bản tự khai và các biên bản lời khai tại cơ quan điều tra, tất cả đều khẳng định được mua ma túy với bị cáo để sử dụng và dược sử dụng ma túy tại bàn uống nước ở trong nhà của bị cáo Mạc Văn B. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã có công văn chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã nơi các đối tượng cư trú, để đưa vào diện quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối số ma túy hoàn lại sau giám định niêm phong trong 01 phong bì thư ghi (tang vật thu giữ của Mạc Văn B ngày 26/6/2020), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, Bùi Anh Thái, bên trong có 0,114 gam Heroine, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 điện thoại nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 200.000 đồng, là tiền do bán ma túy mà có, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 2 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 50, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Mạc Văn B phạm các tội: Mua bán trái phép chất ma túy và tội: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Mạc Văn B 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội: Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 6 năm 2020.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì có chữ (QT Mạc Văn B) (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,097 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói cũ.
Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu MI màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI có bốn số cuối là 0683, bên trong lắp 02 sim Viettel.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu bằng chữ viết tay “Tiền Mạc Văn B”.
Trả lại cho bị cáo: 01 chứng minh nhân dân mang tên Mạc Văn B.
(Các vật chứng trên được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Mạc Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Văn Lãng; - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng; - Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Thi hành án hình sự; - Lưu VP- hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Triệu Thị Máy |