- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van M va dong pham - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn M ph m tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 92/2020/HS-ST Ngày: 01-9-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lò Thị Thành.
2. Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 9 năm 2020, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 89/ 2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
1. Lò Văn M, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Bản L, xã Chiềng K, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn O (đã chết) và con bà: Lò Thị D; vợ: Lường Thị D và 02 người con, lớn sinh 2000, nhỏ sinh năm 2003; tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/02/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử ph t 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; ngày 15/4/2015 bị Toà án nhân dân huyện Sông Mã xử ph t 30 thắng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 07/6/2020 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.
2. Tòng Văn K, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Bản L, xã Chiềng K, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn N và con bà: Vì Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không.
Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 07/6/2020 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 07/6/2020, tổ công tác Công an xã Chiềng C phối hợp với Công an xã Chiềng K làm nhiệm v t i bản Huổi X, Chiềng K, Sông Mã phát hiện Tòng Văn K đang điều khiển xe mô tô BKS 26C1-208.68 theo hướng Bản L đi bản Nà Ngặp, Chiềng K có biểu hiện nghi vấn tội ph m ma túy, tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện t i lòng bàn tay trái của K có 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 04 viên nén màu hồng (Khánh khai nhận là hồng phiến mua sử dụng), tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng. T m giữ 01 xe mô tô BKS 26C1-208.68, số khung RLHJA 3655KY037524, số máy JAS6E-0820211 xe đã qua sử d ng, 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus có số thuê bao 0911214320 đã qua sử d ng.
Số ma túy bị thu giữ, Tòng Văn K khai mua được của Lò Văn M, trú t i Bản L, Chiềng K, Sông Mã, Sơn La. Ngày 07/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã triệu tập Minh để lấy lời khai xác minh làm rõ nội dung v án, t i Cơ quan điều tra Minh thừa nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho K. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ của Lò Văn M, qua khám xét thu giữ được số tiền 150.000VNĐ theo Minh khai nhận là số tiền vừa bán ma tuý cho K mà có; t m giữ 01 điện tho i di động hiệu OPPO Minh và Khánh dùng để liên l c trao đổi mua bán ma túy và 01 chiếc ví hiệu Levi’s.
Ngày 08/6/2020 t i Công an huyện Sông Mã đã tiến hành m niêm phong, cân tịnh, trích mẫu gửi giám định. Kết quả 04 viên nén màu hồng thu giữ có khối lượng 0,37gam, đã trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu K.
Kết luận giám định số 956 ngày 15/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu K là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,37gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,37gam, loại Methamphatamine”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Lò Văn M và Tòng Văn K là người cùng bản, đều sử d ng chất ma túy. Ngày 03/6/2020, Lò Văn M điều khiển xe mô tô của gia đình mang theo 400.000VNĐ xuống xã Chiềng Khương, Sông Mã m c đích tìm mua Hồng phiến về sử d ng và bán lẻ kiếm lời. T i khu vực đường tuần tra biên giới Việt - Lào thuộc địa phận bản Là, Chiềng Khương, M gặp hỏi mua được 16 viên Hồng phiến với giá 400.000VNĐ của một người đàn ông quốc tịch Lào không quen biết khoảng 40 tuổi. Mua được Hồng phiến, M mang về nhà sử d ng hết 03 viên bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp, số còn l i M cất giấu dưới đệm ghế trong phòng khách của gia đình. Trong các ngày mùng 04, 05, 06 tháng 6 năm 2020, mỗi ngày M sử d ng hết 03 viên Hồng phiến. Còn l i 04 viên Hồng phiến, M cất giấu dưới ghế phòng khách. Đến khoảng 12 giờ ngày 07/6/2020, M đang nhà một mình thì Tòng Văn K nhắn tin cho qua m ng xã hội Messenger với nội dung hỏi mua 150.000VNĐ hồng phiến, M đồng ý bán. Một lúc sau, K đi bộ đến nhà M, M nhìn thấy K nên đã lấy gói nilon màu trắng bên trong có 04 Hồng phiến M giấu dưới đệm ghế ra để trên ghế gần bàn uống nước ngoài hiên nhà. Khi K đến thì M chỉ gói Hồng phiến cho K, K nhặt lấy gói Hồng phiến rồi để 150.000VNĐ xuống ghế. Sau đó, K cầm gói Hồng phiến về nhà. Còn M cất số tiền trên vào trong chiếc ví giả da để trong ngăn tủ quần áo của gia đình. Sau khi về đến nhà, K điều khiển xe mô tô của gia đình đi vào bản Nà N, Chiềng K để sử d ng ma túy, khi đến bản Huổi X, Chiềng K thì bị tổ công tác của Công an xã Chiềng C phối hợp với Công an xã Chiềng K làm nhiệm v phát hiện bắt quả tang.
Cáo tr ng số: 94/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn M về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Tòng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy đinh t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t Lò Văn M từ 28 đến 32 tháng tù; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t Tòng Văn K từ 18 tháng đến 22 tháng tù. Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn và đều có giấy chứng nhận hộ nghèo nên được miễn hình ph t bổ sung và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình ph t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tội danh:
- Lò Văn M và Tòng Văn K đều là đối tượng sử d ng ma túy. Ngày 07/6/2020 Lò Văn M đã có hành vi bán trái phép cho Tòng Văn K 04 viên hồng phiến với giá 150.000VNĐ. Sau khi mua được hồng phiến, K về nhà điều khiển xe mô tô của gia đình đến hồ thủy lợi thuộc bản Nà N, Chiềng K để sử d ng ma tuý thì bị tổ công tác Công an xã C và Công an xã Chiềng K làm nhiệm v phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,37gam Methamphetamine cùng đồ vật, phương tiện liên quan.
- T i phiên toà các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của các bị cáo cũng phù hợp với biên bản ph m tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Lò Văn M ph m tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Tòng Văn K ph m tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi ph m tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, đều có tình tiết giảm nhẹ là (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Tòng Văn Khánh còn có thêm một tình tiết giảm nhẹ khác là (người ph m tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội ph m hoặc trong quá trình giải quyết v án) quy định t i điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp d ng cho bị cáo được hư ng.
Về vấn đề khác liên quan:
- Đối với người đàn ông dân tộc Lào đã bán ma tuý cho bị cáo Lò Văn M, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ c thể nên cơ quan Điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade BKS 26C1-208.68, số khung RLHJA 3655KY037524, số máy JAS6E-0820211 xe đăng ký mang tên Vì Thị H sinh năm 1983 trú t i Bản L, xã Chiềng K, Sông Mã, Sơn La (mẹ đẻ của bi can K). Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ s dữ liệu xe máy vật chứng của Công an tỉnh Sơn La. Xác định được khi bị cáo Khánh sử d ng xe đi ph m tội chị Hư ng hoàn toàn không liên quan, nên ngày 07/8/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả l i chiếc xe mô tô trên cho chị Vì Thị H là phù hợp.
Vật chứng của v án còn l i gồm:
- 01 mảnh nilon màu trắng; 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; 0,29 gam Methaphetamine và 01 chiếc ví giả da màu đen là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 8 và chiếc điện tho i di động nhãn hiệu OPPO t m giữ của các bị cáo đều liên quan đến việc ph m tội, cần tịch thu phát m i sung ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) là do bị cáo M ph m tội mà có, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đều có giấy chứng nhận hộ nghèo nên được miễn hình ph t bổ sung (là ph t tiền) và án phí hình sự sơ thẩm.
Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên đối với bị cáo Lò Văn M là phù hợp, tuy nhiên đối với bị cáo Tòng Văn K là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử cần cân nhắc, nhằm có mức án phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M ph m tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử ph t: 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 07/6/2020.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Tòng Văn K ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử ph t: 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 07/6/2020.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 mảnh ni lon màu trắng, 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m , được đựng trong 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.
+Phong bì niêm phong mẫu gửi giám định + khối lượng 0,29gam Methaphetamine, được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong kín.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 150.000VNĐ (một trăm năm mươi nghìn đồng), đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong kín.
- Tịch thu phát m i sung ngân sách Nhà nước: chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 8 và chiếc điện tho i di động nhãn hiệu OPPO t m giữ của các bị cáo.
Toàn bộ Vật chứng được mô tả (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo : Các bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; -VKS huyện; -Thi hành án hình sự; -Thi hành án dân sự; -Bị cáo; người có QL,NV liên quan; -Sở tư pháp tỉnh; -Lưu HS; -Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣờng Văn Quyết |