vanban.org

Bản án 92/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 30/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Về hình phạt: 1. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cho vay lãi nặng - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN NAM
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2020/HS-ST
Ngày: 30-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Hội.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thông Minh Tấn.

Ông Nguy n Thanh h ng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Thế là Th ký của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số 88/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 - theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử s thẩm số 81/2020/QĐXXST-HS ngày 15/10/2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: TRẦN THỊ KIM TH (Tên gọi khác: không có); - sinh năm:1987, tại Bình Thuận;

Giới tính: Nữ.

- HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận;

- Quốc tich: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 07/12;

- Tiền án, tiền sự: Không có;

* Quan hệ gia đình:

- Cha: Trần Minh C – sinh năm 1964, nghề nghiệp: Thợ mộc;

- Mẹ: Nguy n Thị Y – sinh năm 1967, nghề nghiệp: Làm nông

- Gia đình có 05 ng ời con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

- Chồng: hạm Văn H – sinh năm 1984, nghề nghiệp: làm nông;

- Con: có 03 ng ời con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Tất cả cùng trú tại thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i c trú từ ngày 21/02/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. 2. Họ và tên: NGUYỄN THỊ THU H (Tên gọi khác: Chín); sinh năm:1970, tại Bình Thuận;

Giới tính: Nữ;

- HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận;

- Quốc tich: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 05/12;

- Tiền án, tiền sự: Không có; * Quan hệ gia đình:

- Cha: Nguy n Văn S, đã chết;

- Mẹ: Nguy n Thị S1 – sinh năm 1945, già yếu;

- Gia đình có 03 ng ời con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

- Chồng: Nguy n Văn Tr – sinh năm 1969, nghề nghiệp: làm nông;

- Con: có 03 ng ời con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tất cả cùng trú tại thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i c trú từ ngày 21/02/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguy n Thanh V, sinh năm: 1976. Địa chỉ: thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt) 2. Ông hạm Văn H1, sinh năm: 1984. Địa chỉ: thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt) 3. Bà Nguy n Thị H2, sinh năm: 1976. Địa chỉ: thôn hú Mỹ, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt) 4. Bà Trần Thị Xuân H3, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: thôn hú Mỹ, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

5. Bà Lê Thị L, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: thôn hú Sum, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

6. Ông Nguy n Văn Tr, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt – ông Tr ởng ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Nguy n Thị Thu H – theo Giấy ủy quyền đ ợc công chứng tại Văn phòng công chứng Tiến Đạt vào ngày 29/10/2020)

7. Bà Lê Thị Kim Q, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: ấp 7, xã h ớc Tân H ng, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/7/2019 (tức ngày 30/5/2019 âm lịch) ông Nguy n Thanh V (sinh năm 1976, trú thôn hú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam) vay của Trần Thị Kim Th số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) với lãi suất thỏa thuận là 7.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức vay 1.000.000.000 đồng thì ông V phải trả lãi số tiền là 7.000.000 đồng/ngày). Để có tiền cho ông V vay, Th đã vay của Nguy n Thị Thu H số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); Th và H thỏa thuận lãi suất là 6.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) thì Th phải trả lãi số tiền là 6.000.000 đồng/ngày). Sau khi vay đ ợc tiền thì 10 ngày sau ông V trả cho Th 70.000.000 đồng (Bảy m i triệu đồng) đồng tiền lãi, Th nhận số tiền này và trả cho H 60.000.000 đồng (Sáu m i triệu đồng) tiền lãi. Khoảng h n 10 ngày sau (kể từ sau ngày trả lãi đầu tiên) ông V trả cho Th 90.000.000 đồng (Chín m i triệu đồng) tiền lãi, Th nhận số tiền này và trả cho bà H 78.000.000 đồng (Bảy m i tám triệu đồng) tiền lãi. Khoảng 10 ngày sau (kể từ sau ngày trả lãi lần thứ 2) ông V trả cho Th 70.000.000 đồng (Bảy m i triệu đồng) tiền lãi, Th nhận số tiền này và trả cho H 60.000.000 đồng (Sáu m i triệu đồng) tiền lãi. Đến ngày 06/9/2019 (tức ngày 08/8/2019 âm lịch), ông V trả cho Th 239.000.000 đồng (Hai trăm ba m i chín triệu đồng) tiền lãi, Th nhận số tiền này và trả cho H 204.000.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu đồng) tiền lãi. Do không có tiền trả tiền lãi cho Th nên ông Nguy n Thanh V và vợ là Lê Thị Kim Q đã ký hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng thửa đất vợ chồng ông V đang sinh sống cho vợ chồng bà Th, hợp đồng đ ợc Văn phòng công chứng Tiến Đạt công chứng vào ngày 09/10/2019 (do Th mới sinh con nên chồng là ông hạm Văn H1 đứng ra giao dịch và đứng tên trong hợp đồng) với số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), trong đó: Th trả cho Ngân hàng 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra, 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) là tiền lãi, 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) trừ vào tiền gốc vay (tức ông V còn nợ Th 700.000.000 đồng). Đồng thời, cùng ngày hai bên lập lại hợp đồng vay để xác nhận lại đối với khoản tiền gốc 700.000.000 đồng còn lại (sau khi thống nhất cấn trừ vào 300.000.000 đồng vào tiền chuyển nh ợng quyền sử dụng đất), trong đó thể hiện ông hạm Văn H1 là bên cho vay, bên vay là ông Nguy n Thanh V và bà Lê Thị Kim Q (hợp đồng đ ợc Văn phòng công chứng Tiến Đạt công chứng vào ngày 09/10/2019). Ngày 19/11/2019, vợ chồng Th, ông H1 làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng SHB chi nhánh Bình Thuận với số tiền 700.000.000 đồng. Ngày 22/11/2019, ông H1 nhận đ ợc tiền từ Ngân hàng. Đến ngày 23/11/2019, ông H1 gọi Nguy n Thị Thu H qua nhà và ông H1 đ a cho Nguy n Thị Thu H 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tiền lãi của số tiền vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Tính đến ngày 09/10/2019 (tức 100 ngày từ ngày ông V vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) của Th), ông V đã trả cho Th 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng) tiền lãi. Tính đến ngày 23/11/2019 (tức 145 ngày từ ngày Th vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) của Nguy n Thị Thu H), Th đã trả cho H 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng) tiền lãi. Trần Thị Kim Th cho ông V vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) với lãi suất thu lợi là 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng) trong 100 ngày, t ng đ ng lãi suất (669.000.000:1.000.000.000:100)x365 = 244,185%/năm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Tr ờng hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Do đó, số tiền lãi mà Th đ ợc phép nhận của ông V trong vòng 100 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 100 = 54.794.500 đồng (Năm m i bốn triệu bảy trăm chín m i t nghìn năm trăm đồng). Trong vòng 100 ngày Th đã nhận tổng số tiền lãi từ ông V là 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng). Do đó, số tiền mà Th đã thu lợi bất chính do v ợt quá mức lãi suất tối đa mà pháp luật quy định với số tiền là 669.000.000 đồng - 54.794.500 đồng = 614.205.500 đồng (Sáu trăm m ời bốn triệu hai trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng). Nguy n Thị Thu H cho Th vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) với lãi suất thu lợi là 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng) trong 145 ngày, t ng đ ng lãi suất (602.000.000:1.000.000.000:145) x 365 = 151,54%/năm. Số tiền lãi mà Nguy n Thị Thu H đ ợc phép nhận của Th trong vòng 145 ngày theo quy định của Bộ luật dân sự là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 145 ngày = 79.452.000 đồng (Bảy m i chín triệu bốn trăm năm m i hai nghìn đồng). Trong vòng 145 ngày Nguy n Thị Thu H đã nhận tổng số tiền lãi từ Th là 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng). Do đó, số tiền mà H đã thu lợi bất chính là 602.000.000 đồng - 79.452.000 đồng = 522.548.000 đồng (Năm trăm hai m i hai triệu năm trăm bốn m i tám nghìn đồng).

Nh vậy, Nguy n Thị Thu H đã có hành vi cho vay lãi với mức 151,54%/năm, đã v ợt quá 05 lần cho phép của Bộ luật hình sự, tức là 100%/năm, với tổng số tiền thu lợi bất chính là 522.548.000 đồng (Năm trăm hai m i hai triệu năm trăm bốn m i tám nghìn đồng); Trần Thị Kim Th đã có hành vi cho vay lãi với mức 244,185%/năm đã v ợt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, tức là v ợt quá 100%/năm, với tổng số tiền thu lợi bất chính là 614.205.500 đồng (Sáu trăm m ời bốn triệu hai trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng).

Quá trình điều tra xác định đ ợc thêm nh sau: Vào ngày 07/10/2019, (tức ngày 09/9/2019 âm lịch) Nguy n Thị Thu H có vay của bà Nguy n Thị H2 (sinh năm 1976, trú thôn hú Mỹ, xã Hàm Mỹ) số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng) với lãi suất 4.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng (tức vay 1.100.000.000 đồng bà H phải trả cho bà H2 4.400.000 đồng/ngày), lãi suất tính theo năm là 146%/năm, hai bên thỏa thuận vay trong vòng 03 ngày. Tuy nhiên, tới thời điểm này, H vẫn ch a trả tiền lãi và tiền vay cho bà H2 và mới trả 100.000.000 đồng tiền gốc cho bà H2.

Để có tiền cho Nguy n Thị Thu H vay, bà H2 đã vay của bà Trần Thị Xuân H3 (sinh năm 1974, trú thôn hú Mỹ, xã Hàm Mỹ) số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) với lãi suất 3.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng (tức vay 1.000.000.000 đồng bà H2 phải trả cho bà H3 3.000.000 đồng/ngày), lãi xuất theo năm là 109,5%/năm, hai bên thỏa thuận vay trong vòng 03 ngày (tức bà H3 nhận đ ợc 9.000.000 đồng tiền lãi). Tuy nhiên, tới thời điểm này, bà H2 vẫn ch a trả tiền lãi và tiền vay cho bà H3.

Do đó, hành vi của bà H2 và bà H3 không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Số tiền trên đ ợc bà H3 vay của bà Lê Thị Lại (sinh năm 1964, trú thôn hú Sum, xã Hàm Mỹ), với lãi suất 2.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng (tức vay 1.000.000.000 đồng bà Hiệp phải trả cho bà Lại 2.000.000 đồng/ngày), lãi xuất theo năm là 73%/năm. Do đó, hành vi của bà Lại không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKSHTN-HS ngày 24/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận truy tố Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa; Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th theo nh bản Cáo trạng số 37/CT-VKSHTN-HS ngày 24/5/2020 , đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt: Nguy n Thị Thu H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù cho h ởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

- Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt: Trần Thị Kim Th từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho h ởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ theo h ớng dẫn tại Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC thì đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) đ ợc xác định là ph ng tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung quỹ Nhà n ớc. Đối với khoản tiền lãi t ng ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự nh ng phải tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc khoản tiền này. Do vậy, đối với số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) mà Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay và Th tiếp tục dùng số tiền này cho ông Nguy n Thanh V vay; xét thấy, đây là số tiền dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự cần tịch thu sung quỹ Nhà n ớc. Trong khoản tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) nói trên, hiện nay bị cáo Trần Thị Kim Th và chồng là ông hạm Văn H đang quản lý 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); vợ chồng ông Nguy n Thanh V, bà Lê Thị Kim Q quản lý 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng); do vậy, đề nghị HĐXX buộc bị cáo Trần Thị Kim Th cùng với chồng là ông hạm Văn H nộp 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); vợ chồng ông Nguy n Thanh V, bà Lê Thị Kim Q nộp 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà n ớc. Đối với số tiền 669.000.000 đồng tiền lãi; căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ s xác định đ ợc: Nguy n Thị Thu H quản lý 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng), Trần Thị Kim Th quản lý 67.000.000 đồng (Sáu m i bảy triệu đồng). Trong giao dịch giữa Trần Thị Kim Th cho ông Nguy n Thanh V vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), số tiền lãi mà Trần Thị Kim Th đã nhận của ông V trong 100 ngày là 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng); theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong 100 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 100 ngày = 54.794.520 đồng; nh vậy, cần buộc bị cáo Trần Thị Kim Th phải nộp để sung công quỹ nhà n ớc số tiền 54.794.520 đồng và trả lại cho ông Nguy n Thanh V và bà Lê Thị Kim Q khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 614.205.480 đồng. Trong giao dịch mà Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), số tiền lãi mà Nguy n Thị Thu H nhận đ ợc của Trần Thị Kim Th trong 145 ngày là 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng); theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong 145 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 145 ngày = 79.452.054 đồng; nh vậy, cần buộc bị cáo Nguy n Thị Thu H phải nộp để sung công quỹ nhà n ớc số tiền 79.452.054 đồng và trả lại cho Trần Thị Kim Th khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 522.547.946 đồng.

Hiện bị cáo Nguy n Thị Thu H đã nộp 350.000.000 đồng để khắc phục hậu quả – hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam đang quản lý – theo các biên lai thu tiền: số 0003394 ngày 30/6/2020, số 0003395 ngày 09/7/2020, số 0003406 ngày 20/7/2020 và số 0003467 ngày 27/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam. Đề nghị HĐXX tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để bảo đảm việc xử lý phần dân sự và áp dụng biện pháp t pháp.

Đối với giao dịch giữa bà Nguy n Thị Thu H vay của bà Nguy n Thị H2 số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng); tại phiên tòa, hai bên đều xác nhận thời điểm xác lập giao dịch vay tiền vào ngày 07/10/2019 (tức ngày 09/9/2019 âm lịch), khi vay tiền của bà H2, bà Nguy n Thị Thu H đã viết giấy xác nhận việc vay số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng), phía d ới ký, ghi họ tên Nguy n Thị Thu H; bà H trả cho bà Nguy n Thị H2 số tiền 100.000.000 đồng, còn nợ lại 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tiền gốc. Nh vậy, khoản vay 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng) giữa bà Nguy n Thị Thu H vay của bà Nguy n Thị H2 xác lập giao dịch vay tiền vào ngày 07/10/2019 (tức ngày 09/9/2019 âm lịch) không liên quan đến khoản tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) mà bị cáo Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay vào ngày 02/7/2019 (tức ngày 30/5/2019 âm lịch). Do đó, đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết giao dịch vay tiền nói trên giữa bà Nguy n Thị H2 và bà Nguy n Thị Thu H cũng nh giao dịch vay tiền giữa bà Nguy n Thị H2 với bà Trần Thị Xuân H3, giữa bà Trần Thị Xuân H3 với bà Lê Thị L trong vụ án này. Ngoài ra, đối với yêu cầu của ông Nguy n Thanh V và ông hạm Văn H1 liên quan đến hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đ ợc ký kết giữa vợ chồng ông Nguy n Thanh V với ông hạm Văn H1 (chồng của bị cáo Th) – đây là giao dịch khác, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các chủ thể liên quan có thể tự thỏa thuận để giải quyết các giao dịch nói trên thì có thể thực hiện quyền khởi kiện hoặc yêu cầu c quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi nh nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã truy tố; trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức của các bị cáo và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, bà Nguy n Thị H2 và bà Trần Thị Xuân H3 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguy n Thị Thu H phải trả cho bà Nguy n Thị H2 số tiền vay còn nợ là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) để bà Nguy n Thị H2 trả lại cho bà Trần Thị Xuân H3; bà Trần Thị Xuân H3 trả lại cho bà Lê Thị L. Tại phiên tòa, ông hạm Văn H1 yêu cầu Tòa án buộc ông Nguy n Thanh V giao nhà và đất mà vợ chồng ông V chuyển nh ợng cho ông để ông bán, trả nợ. Tại phiên tòa, ông Nguyên Thanh V đề nghị ông hạm Văn H, bà Trần Thị Kim Th chuyển tên thửa đất thổ c có căn nhà để vợ chồng ông có điều kiện sinh sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: [1.1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định của C quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên đều đ ợc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, ng ời tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng của c quan tiến hành tố tụng và ng ời tiến hành tố tụng. [1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Lê Thị L, bà Lê Thị Kim Q đã đ ợc Tòa án triệu tập hợp lệ nh ng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của những ng ời này không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 65 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ. [2] Về cấu thành tội phạm: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đ ợc thu thập trong hồ s vụ án, đủ c sở xác định: Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th là những công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức đ ợc việc cho vay lãi nặng v ợt quá quy định của Bộ luật dân sự là vi phạm pháp luật. Thế nh ng, vì hám lợi mà các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, đã thực hiện hành vi cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính, cụ thể: Vào ngày 02/7/2019, Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), lãi suất 6.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/ngày (t ng đ ng 0,6%/ngày, 18%/tháng, 216%/năm), quá trình thực hiện trong khoảng thời gian 145 ngày bị cáo H đã nhiều lần nhận tiền lãi của Trần Thị Kim Th với tổng số tiền là 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng) - t ng đ ng với 100 ngày theo thỏa thuận. Cùng ngày 02/7/2019, Trần Thị Kim Th dùng số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) - đã vay của Nguy n Thị Thu H nói trên - cho ông Nguy n Thanh V vay lại với lãi suất 7.000 đồng/1.000.000 đồng tiền vay/ngày (t ng đ ng 0,7%/ngày, 21%/tháng, 252%/năm); quá trình thực hiện, trong khoảng thời gian 100 ngày bị cáo Th đã nhận của ông Nguy n Thanh V số tiền lãi tổng cộng là 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng) – t ng đ ng 95 ngày theo thỏa thuận - nh ng bị cáo Th đã tự nguyện chốt thời hạn trả lãi đến ngày ký hợp đồng chuyển nh ợng đất t ng đ ng với 100 ngày.

Trong vụ án, khoản tiền gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) đ ợc luân chuyển trong hai giao dịch vay tiền nói trên có nguồn gốc là của bị cáo Nguy n Thị Thu H. Tuy nhiên, đây là hai giao dịch độc lập bởi lẽ, theo quy định tại Điều 464 của Bộ luật Dân sự quy định thì “Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó”. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền thu lợi bất chính trong mỗi giao dịch sau khi trừ đi số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Tr ờng hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Do đó, số tiền lãi mà Trần Thị Kim Th đ ợc nhận của ông V theo quy định của pháp luật trong 100 ngày 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 100 ngày = 54.794.520 đồng (Năm m i bốn triệu bảy trăm chín m i t nghìn năm trăm hai m i đồng); số tiền lãi mà Nguy n Thị Thu H ng đ ợc nhận của Trần Thị Kim Th theo quy định của pháp luật trong 145 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 145 ngày = 79.452.054 đồng (Bảy m i chín triệu bốn trăm năm m i hai nghìn không trăm năm m i t đồng).

Nh vậy, tổng số tiền lãi mà Trần Thị Kim Th thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng là 669.000.000 đồng - 54.794.520 đồng = 614.205.480 đồng (Sáu trăm m ời bốn triệu hai trăm lẻ năm nghìn bốn trăm tám m i đồng); tổng số tiền lãi mà Nguy n Thị Thu H thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng là 602.000.000 đồng - 79.452.054 đồng = 522.547.946 đồng (Năm trăm hai m i hai triệu năm trăm bốn m i bảy nghìn chín trăm bốn sáu đồng).

Tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự….

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”

Nh vậy, hành vi nói trên của Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th là nguy hiểm cho xã hội, đ ợc thực hiện với lỗi cố ý, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý về tài chính, kinh doanh tiền tệ của Nhà n ớc mà còn ảnh h ởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa ph ng, đủ yếu tố cấu thành tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 nh quan điểm truy tố của Viện kiểm sát huyện Hàm Thuận Nam là có c sở, phù hợp với quy định của pháp luật . [3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng - đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguy n Thị Thu H đã nộp lại số tiền 350.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ nhà n ớc và trả lại cho ng ời vay khoản tiền lãi v ợt quá mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép; do vậy, đ ợc áp dụng tình tiết “tích cực khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Trần Thị Kim Th hiện nay đang nuôi con nhỏ d ới 12 tháng tuổi; HĐXX xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. [4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án phù hợp, t ng xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt; đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án, căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập đ ợc và lời khai của những ng ời tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thể hiện các bị cáo thực hiện hành vi cho vay theo ph ng thức vay tiền của ng ời khác rồi cho vay lại với mức lãi suất cao h n để h ởng chênh lệch tiền lãi (không phải hoạt động cho vay lãi nặng có tính chất băng nhóm); các bị cáo trong vụ án đều có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có n i c trú rõ ràng; do đó Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt tù, cho h ởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đủ để giáo dục cải tạo các bị cáo. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ phạm tội, các điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. [6] Đối với ông hạm Văn H1 (là chồng của bị cáo Th) và ông Nguy n Văn Tr (là chồng của bị cáo H) đều không biết, không tham gia thực hiện vào quá trình các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th thực hiện hành vi cho vay lãi nặng; do đó, C quan điều tra, Viện kiểm sát không xử lý ông hạm Văn H1 và ông Nguy n Văn T với vai trò đồng phạm với các bị cáo là có c sở. Đối với hành vi của Nguy n Thị H2 cho bị cáo Nguy n Thị Thu H vay số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng) vào ngày 07/10/2019 (tức ngày 09/9/2019 âm lịch) với lãi suất thỏa thuận là 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, hai bên thỏa thuận vay trong vòng 03 ngày (tức vay 1.100.000.000 đồng bà H phải trả cho bà H2 4.400.000 đồng/ngày), t ng đ ng lãi suất tính theo năm là 144%/năm. Theo trình bày của bà Nguy n Thị H2 và bị cáo Nguy n Thị Thu H, đến thời điểm hiện nay, bị cáo H đã trả cho bà Nguy n Thị H2 số tiền 100.000.000 đồng tiền gốc, bị cáo H còn nợ của bà Nguy n Thị H2 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tiền gốc. Đối với hành vi của bà Trần Thị Xuân H3 cho bà Nguy n Thị H2 đã vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, hai bên thỏa thuận vay trong vòng 03 ngày (tức vay 1.000.000.000 đồng bà H2 phải trả cho bà H3 3.000.000 đồng/ngày), t ng đ ng lãi suất tính theo năm là 109,5%/năm, đến nay bà H2 cũng ch a trả tiền gốc và lãi cho bà H3. Mặc dù, lãi suất trong hai tr ờng hợp nói trên đều v ợt quá năm lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự; tuy nhiên, quá trình điều tra không chứng minh đ ợc bà Nguy n Thị H2, bà Trần Thị Xuân H3 đã thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng. Do đó, hành vi của bà H2 và bà H3 không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi của bà Lê Thị L cho bà Trần Thị Xuân H3 vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), với lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức vay 1.000.000.000 đồng bà H3 phải trả cho bà L 2.000.000 đồng/ngày), t ng đ ng lãi suất tính theo năm là 73%/năm (không v ợt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự). Do đó, hành vi của bà Lại không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự, áp dụng biện pháp tư pháp:

Căn cứ theo h ớng dẫn tại Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC thì đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) đ ợc xác định là ph ng tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung quỹ Nhà n ớc. Đối với khoản tiền lãi t ng ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự nh ng phải tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc khoản tiền này. Do vậy, đối với số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) mà Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay và Th tiếp tục dùng số tiền này cho ông Nguy n Thanh V vay; xét thấy, đây là khoản tiền tiền gốc dùng để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính, mặc dù cả hai giao dịch nói trên đều vi phạm pháp luật, đáng lẽ cần tịch thu sung quỹ Nhà n ớc khoản tiền gốc của từng giao dịch; tuy nhiên, trong thực tế số tiền gốc là cùng một khoản tiền đ ợc luân chuyển trong hai giao dịch; do đó, căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, HĐXX xét thấy chỉ cần tịch thu sung quỹ Nhà n ớc khoản tiền gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Theo các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ s vụ án đã đ ợc thẩm tra tại phiên tòa, xác định đ ợc: Trong khoản tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tiền gốc nói trên, hiện nay bị cáo Trần Thị Kim Th cùng với chồng là ông hạm Văn H đang quản lý 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); vợ chồng ông Nguy n Thanh V, bà Lê Thị Kim Q quản lý 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng); do vậy, HĐXX cần buộc bị cáo Trần Thị Kim Th cùng với chồng là ông hạm Văn H liên đới trách nhiệm nộp 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); vợ chồng ông Nguy n Thanh V, bà Lê Thị Kim Q liên đới trách nhiệm nộp 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà n ớc. Đối với số tiền 669.000.000 đồng tiền lãi mà ông Nguy n Thanh V trả cho Trần Thị Kim Th, hiện Nguy n Thị Thu H quản lý 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng), Trần Thị Kim Th quản lý 67.000.000 đồng (Sáu m i bảy triệu đồng). Trong giao dịch giữa Trần Thị Kim Th cho ông Nguy n Thanh V vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), số tiền lãi mà Trần Thị Kim Th đã nhận của ông V là 669.000.000 đồng (Sáu trăm sáu m i chín triệu đồng) – trong 100 ngày theo thỏa thuận; theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong 100 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 100 ngày = 54.794.520 đồng; nh vậy, cần buộc bị cáo Trần Thị Kim Th phải nộp để sung công quỹ nhà n ớc số tiền 54.794.520 đồng và trả lại cho ông Nguy n Thanh V và bà Lê Thị Kim Q khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 614.205.480 đồng. Trong giao dịch mà Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), số tiền lãi mà Nguy n Thị Thu H nhận đ ợc của Trần Thị Kim Th là 602.000.000 đồng (Sáu trăm lẻ hai triệu đồng) – trong khoảng thời gian là 145 ngày; theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS thì lãi suất theo thỏa thuận không đ ợc v ợt quá 20%/năm của khoản tiền vay, số tiền lãi tối đa cho phép trong 145 ngày là 1.000.000.000 đồng x (20%:365) x 145 ngày = 79.452.054 đồng; nh vậy, cần buộc bị cáo Nguy n Thị Thu H phải nộp để sung công quỹ nhà n ớc số tiền 79.452.054 đồng và trả lại cho Trần Thị Kim Th khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 522.547.946 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguy n Thị Thu H đã nộp 350.000.000 đồng để khắc phục hậu quả – hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam đang quản lý – theo các biên lai thu tiền: số 0003394 ngày 30/6/2020, số 0003395 ngày 09/7/2020, số 0003406 ngày 20/7/2020 và số 0003467 ngày 27/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam; HĐXX xét thấy cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án phần dân sự và áp dụng biện pháp t pháp. Đối với giao dịch giữa bà Nguy n Thị Thu H vay của bà Nguy n Thị H2 số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng); tại phiên tòa, hai bên đều xác nhận thời điểm xác lập giao dịch vay tiền vào ngày 07/10/2019 (tức ngày 09/9/2019 âm lịch), khi vay tiền của bà H2, bà Nguy n Thị Thu H đã viết giấy xác nhận việc vay số tiền 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng), phía d ới ký, ghi họ tên Nguy n Thị Thu H (bà H2 đã nộp cho c quan điều tra – bút lục 64); bà H trả cho bà Nguy n Thị H2 số tiền 100.000.000 đồng, còn nợ lại 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tiền gốc. Tại phiên tòa, bị cáo Nguy n Thị Thu H và bà Nguy n Thị H2 thừa nhận “Giấy biên nhận vay tiền” - không đề ngày lập - thể hiện nội dung Nguy n Thị Thu H vay của vợ chồng bà Nguy n Thị H2 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) vay từ ngày 30/5/2019 âm lịch (bút lục 59) là do bà H nhờ bà H2 ký xác nhận để bà H nộp cho c quan điều tra nhằm hợp thức hóa nguồn gốc khoản tiền mà bị cáo H cho bị cáo Th vay khi c quan điều tra mời bị cáo H làm việc. Nh vậy, khoản vay 1.100.000.000 đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng) giữa bà Nguy n Thị Thu H vay của bà Nguy n Thị H xác lập giao dịch vay tiền vào ngày 07/10/2019 (tức ngày 09/9/2019 âm lịch) – thể hiện trong tài liệu bút lục 64 (do bà H2 đã nộp cho c quan điều tra) không liên quan đến khoản tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) mà bị cáo Nguy n Thị Thu H cho Trần Thị Kim Th vay vào ngày 02/7/2019 (tức ngày 30/5/2019 âm lịch). Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết giao dịch vay tiền nói trên giữa bà Nguy n Thị H2 và bà Nguy n Thị Thu H cũng nh giao dịch vay tiền giữa bà Nguy n Thị H2 với bà Trần Thị Xuân H3, giữa bà bà Trần Thị Xuân H3 với bà Lê Thị L trong vụ án này. Ngoài ra, đối với yêu cầu của ông Nguy n Thanh V và ông hạm Văn H liên quan đến hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đ ợc ký kết giữa vợ chồng ông Nguy n Thanh V với ông hạm Văn H1 (chồng của bị cáo Th) – đây là giao dịch khác, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tr ờng hợp các chủ thể liên quan không thỏa thuận đ ợc việc giải quyết các giao dịch nói trên thì có thể thực hiện quyền khởi kiện hoặc yêu cầu c quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

[7] Xử lý vật chứng: Do Tòa án không xem xét, giải quyết đối với giao dịch vay tiền giữa bà Nguy n Thị H2 và bà Nguy n Thị Thu H nên cần tuyên trả lại giấy xác nhận việc vay tiền mà bà Nguy n Thị H2 nộp cho c quan điều tra đ ợc l u trong hồ s vụ án tại bút lục số 64 (có đặc điểm hiện trạng nh biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 13/4/2020 của Công an huyện Hàm Thuận Nam).

[8] Về án phí hình sự s thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Trần Thị Kim Th 18 (M ời tám) tháng tù, cho h ởng án treo; thời gian thử thách là 36 (Ba m i sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. 2.2. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Nguy n Thị Thu H 12 (M ời hai) tháng tù, cho h ởng án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai m i bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao các bị cáo Nguy n Thị Thu H và Trần Thị Kim Th cho Ủy ban nhân dân xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình ng ời bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa ph ng trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Ng ời đ ợc h ởng án treo đã chấp hành đ ợc một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của c quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo. Tr ờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ng ời đó phải chấp hành hình phạt của bản án tr ớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo vắng mặt tại n i c trú, thay đổi n i c trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. 3. Xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Trần Thị Kim Th và ông hạm Văn H liên đới trách nhiệm nộp 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); buộc ông Nguy n Thanh V và bà Lê Thị Kim Q liên đới trách nhiệm nộp 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà n ớc. Buộc Trần Thị Kim Th phải nộp để sung công quỹ Nhà n ớc số tiền 54.794.520 đồng (Năm mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn năm trăm hai mươi đồng); buộc Trần Thị Kim Th trả lại cho ông Nguy n Thanh V và bà Lê Thị Kim Q khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 614.205.480 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu hai trăm lẻ năm nghìn bốn trăm tám mươi đồng). Buộc Nguy n Thị Thu H phải nộp để sung công quỹ Nhà n ớc số tiền 79.452.054 đồng; buộc Nguy n Thị Thu H trả lại cho Trần Thị Kim Th khoản tiền lãi v ợt quá quy định của pháp luật là 522.547.946 đồng (Năm trăm hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn sáu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ng ời đ ợc thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo Nguy n Thị Thu H đã nộp – hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam đang quản lý – theo các biên lai thu tiền: số 0003394 ngày 30/6/2020, số 0003395 ngày 09/7/2020, số 0003406 ngày 20/7/2020 và số 0003467 ngày 27/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam để bảo đảm việc thi hành án phần dân sự và áp dụng biện pháp t pháp.

Trả lại cho bà Nguy n Thị H2 tài liệu tại bút lục số 64 (có đặc điểm hiện trạng nh biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 13/4/2020 của Công an huyện Hàm Thuận Nam).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Thị Kim Th và Nguy n Thị Thu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử s thẩm, công khai; các bị cáo và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa; có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa; có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

6. Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ