vanban.org

Bản án 92/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Thị Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Q 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Q phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Thị Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2019/HS-ST
Ngày 04/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Huy Cường và bà Phạm Thị Hương Lan

Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phương Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 04/10/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2019/HSST ngày 27/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2019/QĐXXST-HS ngày 19/9/2019, đối với:

Bị cáo: Bùi Thị Q, sinh ngày 23/5/1997 tại Thanh Miện, Hải Dương; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Bị cáo không có chỗ ở ổn định.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Bùi Văn S (đã chết) và con bà Vũ Thị T, sinh năm 1966 (trú tại: Khu 3, thị trấn T, tỉnh Hải Dương); có chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 và có 03 con sinh năm 2014, 2015 và năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2019 đến nay, tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Đinh Văn Đ và ông Đặng Văn D (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 25 tháng 04 năm 2019 tại đường 386 thuộc thôn Đa Lộc, xã Đa Lộc, huyện Ân, Thi tỉnh Hưng Yên; Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện bắt quả tang Bùi Thị Q, sinh năm 1997; trú tại khu 3, huyện T, tỉnh Hải Dương đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ trên mặt đất cạnh cột biển báo giao thông một gói giấy màu trắng có chữ doanh nghiệp Hương Nguyên - Taxi Thành Đông bên trong có một túi nilon màu trắng, trong túi có chứa các cục tinh thể kết tinh màu trắng (niêm phong ghi số 1); thu trên ghế phụ xe ô tô chỗ Q ngồi 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xiaomi màu đen đã cũ.

Bản kết luận số 289/PC09 ngày 03/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi số 1 có khối lượng là 6,228g là ma túy loại Methamphetamine.

Bùi Thị Q khai nhận: Ngày 24/04/2019 có người thanh niên gọi điện thoại hỏi mua ma túy, Q đồng ý và đi mua ma túy của người phụ nữ ở khu vực trạm giao thông thuộc ngã tư nhà máy sứ thành phố Hải Dương để bán. Sau khi mua được ma túy, Q đón taxi đi đến cầu Từ Ô thuộc xã Đa Lộc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Trên đường đi, Q xin lái xe taxi tờ giấy một mặt có chữ doanh nghiệp Hương Nguyên-Taxi Thành Đông. Khi taxi đi đến cầu Từ Ô, Q bảo người lái taxi dừng xe tại khu vực chân cột biển báo hiệu đường bộ. Q xuống xe, lấy tờ giấy vừa xin được gói túi nilon bên trong chứa ma túy và để ở chân cột dưới đất, sau đó quay ra xe ngồi đợi người thanh niên đến mua ma túy, khi Q đang đợi thì bị Cơ quan CSĐT đến kiểm tra và bắt giữ.

Quá trình điều tra xác định người lái xe taxi BKS 34A-198.75 là Đinh Văn Đ, sinh năm 1989; trú tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương không liên quan đến hành vi phạm tội của Q. Tiến hành xét nghiệm vi sinh, Q và Đ đều dương tính với Methamphetamin và Amphetamin. Công an tỉnh Hưng Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người phụ nữ ở khu vực nhà máy sứ thành phố Hải Dương bán ma túy cho Bùi Thị Q, quá trình điều tra Q khai báo không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể người này ở đâu; do vậy không đủ thông tin để xác minh, xử lý.

Đối với người thanh niên hỏi mua ma túy của Q, do Q không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể; do vậy, không đủ thông tin để xác minh, xử lý.

Chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI màu bạc có biển kiểm soát 34A-198.75 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ Hương Nguyên (hãng taxi Thành Đông), không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của Q, Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Bùi Thị Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 91/CT-VKS-P1 ngày 27/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Bùi Thị Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Thị Q thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải và đề nghị được hưởng hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bùi Thị Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng và nội dung khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 289/PC09 ngày 03/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, Lời khai của những người chứng kiến việc bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 25/4/2019 tại đường 386 thuộc thôn Đa Lộc, xã Đa Lộc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Bùi Thị Q có hành vi để gói ma túy tại chân cột biển báo giao thông, cách vị trí xe taxi của Q đang đỗ gần 1 mét để bán nhưng các bên chưa kịp giao nhận hàng thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là 6,228 gam loại Methamphetamin.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Thị Q đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i (Methamphetamin có trọng lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam) khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ đặc biệt của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Tội phạm ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vì động cơ, mục đích vụ lợi bị cáo cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an và sự bất bình trong xã hội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như đã phân tích trên; cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như quan điểm đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không tài sản và không có nơi cư trú ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 phòng bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 289/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên là chất cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi mầu đen đã cũ, Q sử dụng là phương tiện liên lạc bán ma túy nên sẽ tịch thu, bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Q phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bùi Thị Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Q 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/4/2019.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phòng bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 289/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; 01 tờ giấy có chữ Doanh nghiệp Nguyên Hương – Taxi Thành Đông.

- Tịch thu, bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi mầu đen đã cũ.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKS-P1 ngày 27 tháng 08 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ