vanban.org

Bản án 92/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 20/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Trọng P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2019/HS-PT
Ngày: 20-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh

Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn

Ông Lê Minh Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Hữu Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2019/HSPT ngày 29 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Đoàn Trọng P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2019/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Trọng P, sinh năm 2000 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ và bà Huỳnh Thị Xuân D; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 24/11/2018 sau khi đã có uống rượu, bị cáo Đoàn Trọng P (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe môtô biển số 71B3-xxx.xx chở sau anh Đoàn Văn H sinh năm 1999, nơi cư trú: ấp Q, xã A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) lưu thông trên đường tỉnh 884 theo hướng từ vòng xoay T về cầu S, thành phố Bến Tre. Khi đến đoạn thuộc Ấp x, xã S, thành phố Bến Tre, bị cáo P điều khiển xe vượt qua một xe ôtô (không rõ biển số) đang chạy cùng chiều phía trước rồi lấy đầu xe vào bên phải thì đụng vào xe môtô biển số 71S9-xxxx do ông Lê Hùng M sinh năm 1965, nơi cư trú: Số xx/xx, đường x, Khu phố x, Phường x, thành phố Bến Tre) điều khiển đang chạy cùng chiều phía trước làm 02 xe ngã xuống đường. Ông M bị thương nặng được đưa vào bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre cấp cứu, sau đó chuyển viện đến bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 25/11/2018 thì tử vong, bị cáo P bị thương chân trái, riêng anh Hội chỉ bị xây xát nhẹ.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 22 giờ 20 phút ngày 24/11/2018 xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa, rộng 06 mét, có vạch sơn trắng kẻ tim đường. Chọn hướng chuẩn là hướng từ thành phố Bến Tre về huyện Châu Thành; chọn lề đường bên phải theo hướng chuẩn làm lề chuẩn để đo vẽ. Chọn trụ điện số 8a làm điểm mốc cố định hiện trường. Sau khi xảy ra tai nạn, xe môtô biển số 71S9-xxxx ngã bên phải nằm trên phần đường bên trái hướng chuẩn. Đầu xe quay theo hướng chuẩn, đuôi xe quay ngược hướng chuẩn; trục trước xe cách tim đường 2,3 mét; trục sau xe cách tim đường 3,4 mét. Sau khi tai nạn xảy ra, xe môtô biển số 71B3-xxx.xx đã được dựng đứng do công tác cấp cứu người bị nạn trong lề phải hướng chuẩn, đầu xe quay ngược hướng chuẩn, đuôi xe quay theo hướng chuẩn; trục trước xe cách tim đường 4,2 mét; trục sau xe cách tim đường 04 mét; trục trước xe môtô biển số 71B3-xxx.xx cách trục trước xe môtô biển số 71S9-xxxx là 16,2 mét.

- Tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn có 02 vết cày, cụ thể:

+ Vết cày 1: Dài 0,3 mét, vết cày 1 liền, hình đoạn thẳng; đầu vết cày 1 trùng tim đường; đuôi vết cày 1 nằm bên phần đường bên trái hướng chuẩn, cách tim đường 0,1 mét, cách trục trước xe môtô biển số 71S9-xxxx là 9,5 mét.

+ Vết cày 2: Dài 4,8 mét, vết cày 2 liền, hình đường thẳng; đầu vết cày 2 trùng lề chuẩn, cách đầu vết cày 1 là 20,3 mét; đuôi vết cày 2 nằm trong lề bên phải hướng chuẩn, cách tim đường là 3,7 mét, cách trục sau xe môtô biển số 71B3-xxx.xx là 0,5 mét.

- Trụ điện số 8a nằm trong lề bên trái hướng chuẩn, cách lề bên trái hướng chuẩn, cách trục sau xe môtô biển số 71S9-xxxx là 8,5 mét; cách trục sau xe môtô biển số 71B3-xxx.xx là 13,4 mét, cách đầu vết cày 2 là 10,2 mét.

Theo các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lập ngày 27/11/2018 thể hiện:

Đối với xe môtô biển số 71B3-xxx.xx: Toàn bộ phần đầu xe phía trước: Ốp mũ bảo vệ đầu xe, ốp mũ bảo vệ đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng trái, phải, hệ thống dây điện bị bể mất. Phần kính chiếu hậu bên trái bị bể mất, gọng kim loại bị cong lệch khỏi vị trí ban đầu. Phần mũ tay cầm lái bên trái bị sứt mất, phần kim loại có vết ma sát 12cm x 01cm. Hệ thống còi, đèn chuyển hướng, công tác đèn pha sứt rời khỏi vị trí ban đầu. Ốc kim loại cố định gương chiếu hậu bên phải bị gãy, mài mòn, kích thước 03cm x 03cm. Bình dầu thắng trên tay cầm bên phải có vết ma sát mài mòn, kích thước 05cm x 01cm. Đầu tay cầm lái bên phải có vết ma sát mài mòn, nham nhở. Mỏ cung chắn bùn trước bị ma sát mài mòn, bong tróc sơn, kích thước 04cm x 12cm. Cánh bửng bên trái bị nứt bề mất một phần 13cm x 12cm. Mặt ngoài phuộc trước bên trái có vết ma sát mài mòn, kích thước 0,5cm x 04cm. Cần số trước bị cong từ trước ra sau. Mặt ngoài cánh bửng bên phải bị ma sát mài mòn 38cm x 10cm dính nhiều đất cát. Mặt ngoài cần đạp phanh chân có vết ma sát mài mòn 02cm x 01cm. Gác chân người lái bên phải bị cong từ trước ra sau, từ dưới lên trên, đầu gác chân dính nhiều bùn đất có vết ma sát 01cm x 02cm. Mặt ngoài ốp mũ bảo vệ bộ phận giảm thanh có 02 vết ma sát mài mòn, vết 1 kích thước 02cm x 06cm, vết 2 kích thước 09cm x 02cm. Phanh tay bên phải bị gãy mất.

Đối với xe môtô biển số 71S9-xxxx: Gương chiếu hậu bên phải bị cong lệch khỏi vị trí ban đầu, phần kính bị nứt bể, gọng kim loại có vết ma sát mài mòn 0,5cm x 01cm, mặt ngoài ốp mũ có vết ma sát tạo thành vùng, kích thước 06cm x 04cm. Ốp mũ bảo vệ đầu xe bên phải có vết ma sát mài mòn 04cm x 0,5cm. Tay cầm bên phải bị cong lệch từ trên xuống dưới, trước ra sau, phần đầu tay cầm bị ma sát mài mòn 02cm x 03cm. Gác chân người lái bên phải bị cong từ dưới lên, đầu gác chân bị ma sát mài mòn 03cm x 01cm. Ốp mũ bảo vệ thân xe bên phải bị ma sát mài mòn 28cm x 04cm. Cản sau xe bị bung hở khỏi vị trí ban đầu. Ốp mũ bảo vệ đuôi xe tiếp giáp bộ phận đèn phía sau bị sứt mất. Ốp mũ bảo vệ đèn báo hãm, đèn chuyển hướng phía sau bị bể mất. Mặt ngoài biển số xe bị bể mất phần kính, phần bên trái bị nứt bể phần kính cong lệch từ sau về trước.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 205/TT ngày 10/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định: Phù nề, sây xát da, bầm tụ máu vùng đỉnh - chẩm

- thái dương phải. Giập, xuất huyết, tụ máu nặng dưới da đầu vùng đỉnh - chẩm - thái dương phải. Xuất huyết, tụ máu cơ thái dương phải. Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh - chẩm - thái dương phải, có nhiều mảnh rời. Rách màng cứng. Tụ máu ngoài và dưới màng cứng. Xuất huyết lan tỏa dưới màng mềm. Giập nhu mô não. Tụ máu trong nhu mô não.

Nguyên nhân chết: Nạn nhân Lê Hùng M chết do chấn thương sọ não gây vỡ xương hộp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ, giập não.

Theo Bản kết luận giám định số 1832/C09B ngày 19/4/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe môtô biển số 71B3-xxx.xx với xe môtô biển số 71S9-xxxx nằm trước đầu vết cày ký hiệu 3, thuộc phần đường bên phải đường ĐT884 theo hướng từ thành phố Bến Tre đến huyện Châu Thành.

- Khi va chạm, xe môtô biển số 71B3-xxx.xx chuyển động trên đường ĐT884 theo hướng từ thành phố Bến Tre đến huyện Châu Thành, xe môtô biển số 71S9-xxxx chuyển động cùng chiều phía trước xe môtô biển số 71B3-xxx.xx.

Theo kết quả xét nghiệm sinh hóa lập lúc 01 giờ 13 phút ngày 25/11/2018 của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre kết luận nồng độ cồn trong máu của Đoàn Trọng P là 229mg/100ml máu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HS-ST ngày 23-9-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2019 bị cáo Đoàn Trọng P kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo yêu cầu được hưởng án treo; Bị cáo khai nhận hành vi phù hợp các chứng cứ đã được thu thập.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Lời nói sau cùng bị cáo yêu cầu được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định. Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 24/11/2018, sau khi đã uống rượu (qua kiểm tra nồng độ cồn trong máu của Đoàn Trọng P có nồng độ cồn là 229 mg/100 ml máu), Đoàn Trọng P (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe môtô biển số 71B3-xxx.xx chở sau Đoàn Văn H lưu thông trên đường tỉnh 884, hướng từ vòng xoay T về cầu S. Khi đến đoạn thuộc Ấp x, xã S, thành phố Bến Tre, P điều khiển cho xe môtô biển số 71B3-xxx.xx vượt xe phía trước không đảm bảo an toàn nên xe môtô do P điều khiển đụng vào xe môtô biển số 71S9-xxxx do ông Lê Hùng M điều khiển đang chạy cùng chiều phía trước xảy ra tai nạn dẫn đến ông M tử vong, còn Hội bị xây xát nhẹ và từ chối giám định thương tật. Với ý thức, hành vi và hậu quả mà Đoàn Trọng P đã xảy ra, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm khi áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo đã xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng ông nội và mẹ của bị cáo bị bệnh, có em nhỏ đi học, chỉ có cha là lao động chính trong gia đình để bị cáo có điều kiện phụ giúp gia đình, tình tiết này thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét tính chất vụ án thì lỗi trong vụ án thuộc về bị cáo, hậu quả chết người là nghiêm trọng nên Tòa án cấp sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy phù hợp nên được giữ nguyên theo như đề nghị của Kiểm sát viên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có cơ sở.

Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng P phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

[2] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đoàn Trọng P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. N i nh n:

Cỡ chữ