- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Khánh L và đồng phạm phạm tội "Tàng trử trái phép chất ma túy" năm 2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị Khánh L.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2019/HSPT Ngày 22-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
- Các Thẩm phán: - Ông Bùi Đình Thông
- Ông Hồ Đức Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hạnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 56/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Khánh L, Đậu Thị T, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Khánh L, Đậu Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 27-3- 2019 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh;
- Bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Thị Khánh L; Sinh ngày: 22/8/1995 tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Trú tại: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu H (đã chết); Chồng: Hoàng Bá M và có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 03/12/2018 đến ngày 08/12/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
2. Đậu Thị T, sinh ngày 26/4/1995 tại huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đậu Văn T, sinh năm 1960 và bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1966 đều trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 03/12/2018 đến ngày 08/12/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bích M, sinh 1994; Địa chỉ: xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/12/2018, Nguyễn Thị Khánh L gọi điện thoại cho người một người đàn ông tên H (không rõ địa chỉ, lý lịch cụ thể) hỏi mua 05 viên ma túy thuốc lắc với giá 450.000 đồng/1 viên, L bảo H đưa ma túy lại đường Hà Tông Chính, thành phố Hà Tĩnh. Khoảng 15 phút sau, H gọi cho L bảo 05 viên ma túy thuốc lắc được bỏ trong túi nilon bên trong bọc giấy bìa để ở chậu cây cảnh phía trước số nhà 09 đường Hà Tông Chính, thành phố Hà Tĩnh rồi bảo L ra lấy, L hẹn hôm sau thanh toán tiền. Do bận nấu cơm, L gọi điện cho Đậu Thị T, bảo T đến số nhà 09, đường Hà Tông Chính tìm chậu cây cảnh lấy gói ma túy về cùng sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 38E1-055.09 của chị Nguyễn Thị Bích M đến địa điểm trên, sau khi tìm thấy ma túy ở chỗ cất dấu, T cầm gói ma túy ở tay điều khiển xe về phòng trọ của L thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Không thấy T về, L gọi điện cho T nhưng không gọi được nên ra khu vực trước số nhà 09 đường Hà Tông Chính tìm gói ma túy không thấy, nghi T bị Công an bắt L đã vứt điện thoại di động kèm theo số sim 0928967638 xuống hồ nước bên đường Hà Tông Chính. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Khánh L bị bắt.
Tại Bản kết luận giám định số 05/GĐMT-PC09 ngày 05/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 05 viên nén hình tròn, màu xanh được gói trong túi nilon bên ngoài bọc bìa giấy gửi giám định là ma túy có Methamphetamine, MDMA, có khối lượng 1,7934 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Khánh L và Đậu Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Nguyễn Thị Khánh L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/12/2018 đến ngày 08/12/2018.
Đậu Thị T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/12/2018 đến ngày 08/12/2018.
Ngoài ra án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019, bị cáo Nguyễn Thị Khánh L và Đậu Thị T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Khánh L rút đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Khánh L và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo L; sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Đậu Thị T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 27-3- 2019 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Khánh L, tại phiên tòa phúc thẩm, rút đơn kháng cáo. Việc rút đơn của bị cáo là tự nguyện, căn cứ quy định tại Điều 348 BLTTHS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo L.
Bị cáo Đậu Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như án sơ thẩm đã tuyên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó có căn cứ khẳng định Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố H đã tuyên đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nên phải chịu mọi hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo Đậu Thị T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Thành khẩn khai báo”, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo “ăn năn hối cải” hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; được chính quyền địa phương xác nhận có bố đi bộ đội tham gia chiến trường biên giới phía Bắc năm 1979, ông nội đi dân công hỏa tuyến ở nước Lào, mẹ đau ốm thường xuyên là những tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, bị cáo L là người liên lạc mua ma túy nên giữ vai trò chính, bị cáo T là đồng phạm thứ yếu, hành vi phạm tội giản đơn chỉ nghe theo lời của bị cáo L đi lấy hộ gói ma túy giấu trong chậu cây cảnh tại số nhà 09, đường Hà Tông Chính, bị cáo T không trực tiếp liên lạc mua ma túy. Do đó cần chấp nhận đơn kháng cáo, xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo Đậu Thị T là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm b, đ khoản 1 Điều 355, Điều 348, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị Khánh L.
Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Đậu Thị T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố H về phần hình phạt.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đậu Thị T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 54 BLHS, xử phạt:
Đậu Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/12/2018 đến ngày 08/12/2018.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 23/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Thị Khánh L, Đậu Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh (2 bản); - TAND TP Hà Tĩnh; - VKSND TP Hà Tĩnh - Công an TP Hà Tĩnh; - Chi cục thi hành án TP Hà Tĩnh; - Những người TGTT; Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các thẩm phán Hồ Đức Quang Nguyễn Thị Bích Đào | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Đào Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hồng Hải |