vanban.org

Bản án 92/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao 02 cháu tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2014 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 30/12/2016 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Trọng Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 92/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 08/5/2019
V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà; Ông Nguyễn Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cảnh và ông Nguyễn Doãn Ước

- Thư ký phiên toà: Ông; Nguyễn Bá Anh

Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Trần Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2019/TLST- HNGĐ ngày 01/4/2019, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/4/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị; Hoàng Thị H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Xóm 5, xã XL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Có mặt tại phiên tòa

2. Bị đơn: Anh; Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1985

Địa chỉ: Xóm 4, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Có mặt tại phiên tòa

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

Ông; Nguyễn Trọng S, sinh năm 1944 ( Bố đẻ )

Địa chỉ: Xóm 4, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị H, trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H kết hôn với anh Nguyễn Trọng Đ vào ngày 24/02/2014 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung ở bên nhà ngoại ở xóm 5, xã XL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống với nhau rất hạnh phúc, đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tính không hợp nhau, nên cãi nhau, anh Nguyễn Trọng Đ không có trách nhiệm với con. Đến ngày 09/4/2017 thì anh Nguyễn Trọng Đ có biểu hiện không bình thường, nên gia đình đã đưa anh Nguyễn Trọng Đ xuống Bệnh viện Tâm thần Nghệ An để điều trị và được xác định là bị bệnh rối loạn cảm xúc thuộc loại trầm cảm, đến ngày 06/5/2017 thì ra viện; sau khi ra viện sống với nhau được thời gian thì lại xảy ra mâu thuẫn và đến tháng 10/2017 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nên chồng đã về bên nội ở, còn chị tiếp tục sống bên ngoại, hai vợ chồng đã sống ly thân để xem tình cảm vợ chồng có cải thiện được không, song cả hai vẫn không có được tiếng nói chung và cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Hoàng Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên nguyện vọng xin được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ.

- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2014 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 30/12/2016. Nay ly hôn chị có nguyện vọng xin được nuôi 02 con và không yêu cầu cấp dưỡng, vì anh Nguyễn Trọng Đ bị bệnh trầm cảm, nếu giao con cho anh Nguyễn Trọng Đ nuôi sẽ không đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dạy con.

- Về chia tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Trọng Đ và Người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Trọng S là bố đẻ của anh Nguyễn Trọng Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng Đ kết hôn với chị Hoàng Thị H vào ngày 24/02/2014 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung ở bên nhà ngoại ở xóm 5, xã XL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống với nhau rất hạnh phúc, đến đầu năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tính không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau nên cãi nhau. Đến ngày 09/4/2017 thì anh Nguyễn Trọng Đ có biểu hiện mệt mỏi, nên gia đình đã đưa anh Nguyễn Trọng Đ xuống Bệnh viện Tâm thần Nghệ An để điều trị và được xác định là bị bệnh rối loạn cảm xúc thuộc loại trầm cảm, đến ngày 06/5/2017 thì ra viện. Sau khi ra viện thì vợ chồng vẫn sống tình cảm bình thường, tuy có xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt. Đến tháng 10/2017 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nên anh Nguyễn Trọng Đ đã về bên nội ở và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Hoàng Thị H xin ly hôn, thì anh Nguyễn Trọng Đ và gia đình bên nội cũng nhất trí ly hôn để giải phóng cho chị Hoàng Thị H. Anh Nguyễn Trọng Đ tuy có đi điều trị tại Bệnh viện Tâm thần, nhưng mọi nhận thức bình thường, anh điều trị đã khỏi bệnh, hiện nay đang đi làm việc bình thường.

- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2014 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 30/12/2016. Nay ly hôn gia đình có nguyện vọng xin được nuôi cháu Nguyễn Xuân T.

- Về chia tài sản chung: Anh Nguyễn Trọng Đ và gia đình không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng, tại phiên tòa bị đơn có mặt, song lại vắng mặt người đại diện hợp, nhưng đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, cho nên đề nghị Tòa án xét xử bình thường. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ; về con thì giao 02 con cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, vì anh Nguyễn Trọng Đ là người bị tâm thần rối loạn cảm xúc, nên có hạn chế về mặt nhận thức, cho nên cần thiết giao 02 con cho chị Hoàng Thị H nuôi dưỡng, sẽ đảm bảo sự chăm sóc và phát triển của các con; về tài sản không xem xét; chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn và đại diện hợp đã có mặt và có ý kiến. Tòa án cũng đã tống đạt Giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đại diện hợp pháp của bị đơn, người đại diện đã có ý kiến xin được vắng mặt tại phiên tòa, vì lý do sức khỏe, cho nên Tòa án vẫn xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị H với anh Nguyễn Trọng Đ, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 24/02/2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung ở bên nhà ngoại ở xóm 5, xã XL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống với nhau rất hạnh phúc bình thường, đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tính không hợp nhau, nên cãi nhau. Đến ngày 09/4/2017 thì anh Nguyễn Trọng Đ có biểu hiện mệt mỏi, nên gia đình đã đưa anh Nguyễn Trọng Đ xuống Bệnh viện Tâm thần Nghệ An để điều trị và được xác định là bị bệnh rối loạn cảm xúc thuộc loại trầm cảm, đến ngày 06/5/2017 thì ra viện; sau khi ra viện thì vợ chồng vẫn sống tình cảm bình thường, tuy có xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt. Đến tháng 10/2017 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nên anh Nguyễn Trọng Đ đã về bên nội ở và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Hoàng Thị H xin ly hôn, thì anh Nguyễn Trọng Đ bị bệnh nên có hạn chế về nhận thức, song đại diện hợp pháp cũng có ý kiến nhất trí ly hôn để giải phóng cho chị Hoàng Thị H. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Hoàng Thị H, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ.

Về trách nhiệm nuôi con: Hai người có có 02 con chung tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2014 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 30/12/2016. Ly hôn chị Hoàng Thị H có nguyện vọng được nuôi 02 con; còn anh Nguyễn Trọng Đ và đại diện hợp pháp có nguyện vọng được nuôi cháu thứ 02 là Nguyễn Xuân T. Song xét thấy anh Nguyễn Trọng Đ bị bệnh tâm thần rối loạn cảm xúc, cho nên cần thiết giao 02 con cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, sẽ đảm bảo sự chăm sóc và phát triển của các con và tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.

Về án phí: Chị Hoàng Thị H, phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Đ.

2. Về trách nhiệm nuôi con: Giao 02 cháu tên là Nguyễn Minh K, sinh ngày 23/10/2014 và cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 30/12/2016 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Trọng Đ.

Anh Nguyễn Trọng Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H

: 300

( Ba trăm ngàn đồng

. Chị Hoàng Thị H,

300

( Ba trăm ngàn đồng )

án

chị

heo biên lai 0001448

28/3/2019

, tỉnh Nghệ An.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ